Hà thủ ô trắng

đăng 06:46, 22 thg 9, 2013 bởi công trình cây

HÀ THỦ Ô TRẮNG

Streptocaulon juventas (Lour.) Merr.

Họ: Thiên lý Asclepiadaceae

Bộ: Long đởm Gentianales

Mô tả:

Dây leo bằng thân quấn dài 2 - 5m. Vỏ thân màu nâu đỏ, có nhiều lông mịn. Lá mọc đối; phiến lá nguyên, hình bầu dục, chóp lá nhọn, gốc lá tròn, dài 4 - 14cm, rộng 2 - 9cm.

Hoa nhỏ, màu lục vàng nhạt, mọc thành xim ở nách lá. Quả gồm 2 đại xếp ngang ra hai bên trông như đôi sừng bò. Hạt dẹt mang một mào lông mịn. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng như sữa.

Phân bố:

Loài của nam Trung Quốc và các nước Đông Dương. Ở nước ta, có gặp tại nhiều nơi vùng đồi núi.

Sinh thái:

Cây mọc hoang ở vùng đất cao, đồi gò, rừng thứ sinh, đặc biệt là trên các nương rẫy bỏ hoang hoặc mới khai hoang. Cây tái sinh khỏe.

Công dụng:

Rễ củ dài, mập và trắng, vị đắng, được sử dụng làm thuốc. Thường dùng chữa thiếu máu, thận gan yếu, thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém, sốt rét kinh niên, phong thấp tê bại, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, bạch đới, ỉa ra máu, trừ nọc rắn cắn, bạc tóc sớm, bệnh ngoài da mẩn ngứa. Có nơi còn dùng củ và thân lá của cây để chữa cảm sốt, cảm nắng, sốt rét. Có người dùng dây sắc lấy nước cho phụ nhữ sinh đẻ thiếu sữa uống cho có thêm sữa. Cây lá cũng được dùng đun nước tắm và rửa để chữa lở ngứa. Người ta còn dùng củ chữa cơn đau dạ dày.

Thường dùng mỗi ngày 12 - 20g dạng thuốc sắc. Có thể nấu cao hay ngâm rượu uống. Cành lá dùng với liều lượng nhiều hơn. Người ta cũng thường chế Hà thủ ô trắng như Hà thủ ô đỏ.

 

Mô tả loài: Trần Hợp - Phùng Mỹ Trung.

Comments