Cây Cô tòng đuôi lươn

đăng 02:55, 9 thg 11, 2014 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 15:43, 28 thg 11, 2014 ]
Cây Cô tòng đuôi lươn còn có các tên khác như: ngũ sắc, Vàng bạc trổ, Cô tòng, Cô tòng đuôi lươn.

Tên khoa học: Codiaeum variegatum (L.) Blume var. pictum Muell. – Arg.

Cây nhỡ hay cây gỗ nhỏ, không lông. Lá hình trái xoan thuôn, có khi nguyên, mặt dưới nhạt màu, mặt trên màu tía hay ánh vàng và có nhiều màu sặc sỡ, dài đến 20cm, rộng 5cm; gân lông chim 10 đôi; cuống lá dài 3 - 5cm.

Cụm hoa ở ngọn, thành chùm dạng bông, dài 10 - 20cm, có hoa từ phía giữa; hoa nhiều, cùng gốc hay khác gốc, có cuống dài 3 - 5mm. Hoa đực có 5 lá đài, 5 cánh hoa, đĩa mật có 5 tuyến hình tứ giác và khoảng 30 nhị. Hoa cái có 5 lá đài, không có cánh hoa, đĩa mật thành vòng và bầu hình trứng có 3 đầu nhụy. Quả nang nhẵn, dài 7mm, rộng 9mm, màu trắng.

Gốc ở quần đảo Mã Lai, Ôxtrâylia và các đảo vùng Nam Thái Bình Dương, được nhập trồng ở nhiều nơi.

Loài rất đa dạng về dạng lá, có hình dải, hình trái xoan, hình mũi mác, chia ba thùy, nguyên hay thắt lại từng đoạn; màu sắc của lá cũng thay đổi từ màu kem tới vàng lục, màu hồng tới màu đỏ. Dựa vào hình thái của lá người ta chia ra các dạng: f. platyphyllum Pax có lá rộng ở trên và giữa; f.disraeli Bail. có lá chia thùy cạn; f. cornutum André có đỉnh phiến lá có gai do gân giữa tạo thành; f.spirale Bail. có lá vặn xoắn; f. crispum Muell.- Arg. Có lá với mép nhăn; f. interruptum Bail. có lá gián đoạn ở giữa; f. appendiculatum Celak có đỉnh phiến lá có thêm một phiến phụ nhỏ; f. taeniosumMuell.-Arg có phiến rất hẹp.

Cây được trồng làm cảnh ở các vườn hoa, vườn cảnh vì tán lá đẹp.

Lá cây có ít độc, được dùng tươi giã đắp bó gãy xương. Ở Vân Nam (Trung Quốc), lá được dùng làm thuốc thanh nhiệt lý phế, tán ứ tiêu thũng để trị ho, đòn ngã sưng đau. Các dạng lá khác đều có cùng một công dụng. Ở Ấn Độ lá giã ra làm thuốc đắp trên bụng của trẻ em bị đau do rối loạn đường tiết niệu. Cây còn có những công dụng khác. Nước sắc của lá dùng cho phụ nữ tắm sau khi sinh nở. Nước sắc của một thứ có thể dùng để xổ hoặc phá thai. Vài dạng có lá vàng có thể được dùng để xông, vừa uống vừa đắp chữa viêm họng. Rễ giã ra chữa giang mai. Lá giã đắp lên bụng trẻ em chữa đái dầm. Cành non làm thức ăn cho trâu bò.
Comments