MEGAGREEN

Liên hệ

Danh mục cây công trình

Cây đinh lăng

Cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa) thuộc họ Ngũ gia bì - dược liệu quý sử dụng được toàn bộ cây từ rễ, củ, cành và lá để làm thuốc trị bệnh, bồi bổ sức khoẻ và làm gia vị cho các món ăn như gỏi cá, thịt chó...
Hiện nay, ở một số địa phương, bà con nông dân hoặc các trang trại đã biết trồng với số lượng lớn vì hiệu quả kinh tế của nó. Tuy nhiên, cách trồng như thế nào để có hiệu quả cao thì nhiều người còn chưa được biết tới.
Theo dân gian, Đinh lăng có hai loại chính: Đinh lăng nếp và Đinh lăng tẻ.
- Đinh lăng tẻ: là loại lá to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng, vỏ bì mỏng năng suất thấp. Loại này không nên trồng.
- Đinh lăng nếp: là loại lá nhỏ, xoăn; thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ bì dầy cho năng suất cao và chất lượng tốt. Nên chọn loại này để trồng.
Khi chọn giống, chọn cành bánh tẻ hoặc phần ngọn của cây có màu nâu nhạt, chặt ra từng đoạn 25 - 30cm (dùng dao sắc để chặt, tránh bị dập 2 đầu). Không nên trồng cả cành dài vừa lãng phí giống vừa khó chăm sóc.
Đinh lăng là loại cây chịu hạn, không ưa đọng nước, phát triển tốt ở vùng đất cát pha, tơi xốp, có độ ẩm trung bình.
- Làm đất trồng Đinh lăng: Khi trồng đại trà, diện rộng, phải cày bừa làm đất tơi. Nếu ở vùng đồi phải cuốc hốc sâu 20cm, đường kính 40cm/hố. Đất làm tơi, lên luống cao 20cm rộng 50cm. Nếu làm ruộng thưa nên đánh rạch ở giữa sâu 15cm rồi đặt hom giống cách nhau 50cm, đặt nghiêng hom theo chiều luống, giữa các hom bón lót bằng phân chuồng 4kg/sào và 20kg phân NPK (tránh bỏ phân sát hom giống). Sau đó lấp hom, để hở đầu hom trên mặt đất 5cm. Trồng xong, phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất tơi xốp.
- Khi trồng xong, nếu đất khô phải bơm nước ngập 2/3 luống hoặc tưới bảo đảm độ ẩm cho đất trong vòng 20 - 25 ngày nhưng không để ngập nước. Nếu trời mưa liên tục phải thoát nước ngay để tránh thối hom giống.
- Nếu trồng ở chỗ đất tận dụng như rìa vườn, đường đi hoặc nơi đất cao khó tưới thì có thể cuốc hốc sâu 20cm rồi đặt hom giống xuống và lấp kín hom không để hở, sau này hom có thể phát rễ và nảy mầm mọc lên nhưng lâu. Trồng ở những chỗ này phải chọn hom ở những đoạn cành già và tưới đẫm nước lần đầu.
- Thời vụ: Nên trồng vào mùa xuân, từ tháng 1 - 4. Vào mùa hè cần phải dâm hom giống 20 - 25 ngày cho ra rễ mới đem trồng. Dâm cành bằng cách đem hom cắm xuống đống cát để trong bóng mát.
Đinh lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn và ít sâu bệnh. Hầu như không cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Từ năm thứ 2 trở đi cần tỉa bớt lá và cành, mỗi năm 2 đợt vào tháng 4 và tháng 9. Mỗi gốc chỉ để 1 - 2 cành to là được.
Năm đầu, vào tháng thứ 6 sau trồng, bón thúc 8kg urê/sào bằng cách rắc vào má luống rồi lấp kín. Cuối năm thứ 2 vào tháng 9 sau đợt tỉa cành, bón thêm phân chuồng 300kg/sào và 15kg NPK + 4kg kali. Trồng từ 3 năm trở lên mới thu hoạch.
Đinh lăng có thể thu hoạch quanh năm, song tốt nhất là vào tháng 11 - 12. Củ và rễ tươi đã thu hoạch cần chế biến ngay, không nên để quá 5 ngày. Có thể thái lát mỏng 0,3 - 0,5cm rồi rửa sạch đem phơi hoặc sấy khô. Đóng bao 2 lớp: trong nilông, ngoài bao tải dứa để tránh mốc.

Những bài thuốc quý từ cây Đinh Lăng

Từ lâu, cây Đinh lăng lá nhỏ được người dân trồng phổ biến để làm cảnh, làm rau ăn kèm và làm thuốc.

Do có những tính chất như nhân sâm nhưng lại là loại cây dễ trồng, dễ tìm, người dân có thể dễ dàng có được và sử dụng nên Danh y Hải Thượng Lãn Ông đã gọi cây Đinh lăng là “cây Sâm của người nghèo”.

Thân cây Đinh lăng sần sùi nhanh lớn, lá quăn răng cưa mọc thành chùm xẻ lông chim rất đẹp. Hoa Đinh lăng tinh khiết, giản dị nở vào khoảng tháng 4 đến tháng 7. Đinh Lăng là loại cây thảo tái sinh, dễ trồng, dễ uốn tỉa, thường trồng nơi đất ráo thoáng, màu xốp, đào hố to và sâu hạ cây trồng cho nảy nhiều gốc to. Cây Đinh lăng được trồng phổ biến để làm gia vị, làm cây cảnh và làm thuốc. Lá Đinh lăng hương thơm nhẹ, vị đậm hơi đắng, bùi, tính mát. Do tính chất này nên dân gian thường dùng làm rau gia vị. Lá Đinh lăng thường ăn kèm với lá mơ tam thể, rau diếp cá trong các món nem chua, tái dê, gỏi cá (nên còn gọi là cây gỏi cá). Từ đầu thập niên 60 thế kỉ trước, người ta đã biết tác dụng của cây Đinh lăng, tên khoa học là Polyscias Fruticosa (L) họ ngũ gia bì (Araliaceae).

Tính chất và tác dụng: Rễ Đinh lăng vị ngọt có tác dụng bởi bổ ngũ tạng, giải độc, bổ huyết, tăng tuyến sữa, tiêu thực, tiêu viêm, tiêu sưng, tăng lực, tăng sức khỏe dẻo dai, hồi phục cơ thể sau suy kiệt, ăn ngủ tốt.

Củ cây Đinh lăng (sâm ta) giữ tươi được lâu năm.

Cách dùng: Rễ Đinh lăng làm sạch tẩm nước gừng, sấy khô, sau đó tẩm mật sao, thường dùng sao vàng tán bột hoặc ngâm rượu uống bồi bổ sức khỏe, trị suy nhược cơ thể, mất ngủ hay quên, người mỏi mệt, không thích hoạt động. Rễ hoặc lá Đinh lăng sắc cho phụ nữ sau sinh hoặc có thể thái lá tươi nấu canh, nấu cháo ăn tác dụng bồi bổ tăng sữa.

Liều dùng: Ngày 8 đến 12 gam rễ khô.

Bài thuốc chữa mệt mỏi, biếng hoạt động (Theo chuyên đề hướng dẫn và sử dụng thuốc Nam của Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bình Dương): Dùng rễ Đinh lăng thái mỏng, phơi khô 0,50 gam, thêm 100ml nước đun sôi trong 15 phút, chia 2 - 3 lần uống trong ngày.

Bài thuốc thông tia sữa, vú bị căng: Dùng rễ Đinh lăng 30 - 40 gam thêm 100ml nước đun sôi trong 15 phút, chia 2 - 3 lần uống trong ngày.

Một số kinh nghiệm sử dụng Đinh lăng:

1. Chữa nhiệt độc, lở ngứa, mụn nhọt: Dùng lá Đinh lăng 40 - 60 gam sắc uống.

2. Chữa đau đầu: thân lá Đinh lăng và Bạch chỉ sắc uống hằng ngày.

3. Lá Đinh lăng tươi giã đắp chín mé sưng, đau.

4. Chữa phong thấp đau, nhức mỏi: Cây Đinh lăng (cả lá thân rễ), cây lá lốt, ké đầu ngựa lượng bằng nhau 30-40 gam dạng thuốc sắc uống.

……………..
Xem thêm các loại cây lá màu khác tại: cây lá màu
Xem thêm các loại cây bóng mát thân gỗ khác tại: cây bóng mát
Comments