Sữa

đăng 01:13, 4 thg 9, 2013 bởi công trình cây

Sữa

Sữa, Mò cua, Mồng cua - Alstonia scholaris (L.) R. Br., thuộc họ Trúc đào - Apocynaceae.

Mô tả: Cây to cao khoảng 10-20m, vỏ nứt nẻ màu xám. Cành mọc vòng. Lá mọc vòng 5-8 cái, tập trung ở đầu cành; phiến lá dày hình bầu dục. Hoa nhỏ, màu trắng lục, mọc thành xim tán ở nách lá, mùi thơm hắc, nhất là về đêm. Quả gồm hai đại dài và hẹp, chứa nhiều hạt. Hạt có mào lông ở hai đầu.

Mùa hoa quả tháng 7-12.

Bộ phận dùng: Vỏ cây và lá - Cortex et Folium Alstoniae.

Nơi sống và thu hái: Loài cổ nhiệt đới, mọc hoang và cũng được trồng ở nhiều nơi. Ta thường thu hái vỏ vào mùa xuân hè, cạo bỏ lớp bần, thái lát phơi khô hoặc tán bột dùng.

Thành phần hoá học: Alcaloid toàn phần trong vỏ là 0,16 - 0,27%. Các chất chính là echitenine ditamine, echitamine (0,5%), echitamidine. Vỏ còn chứa a-amyrin và lupeol cùng các triterpen khác.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, thơm, tính hàn, có ít độc; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng chỉ thống, bình suyễn chỉ khái, triệt ngược, phát hàn, kiện vị, dùng ngoài cầm máu. Ở Ấn Độ, vỏ được xem như là thuốc bổ đắng, hạ nhiệt.

Công dụng: Thường dùng làm thuốc bổ, chữa thiếu máu, kinh nguyệt không đều, sốt rét cấp và mạn tính, đau bụng ỉa chảy, kiết lỵ, viêm khớp có sưng nóng đỏ đau, bệnh ngoài da lở ngứa.

Ở Ấn Độ, vỏ được dùng trị sốt rét và cũng dùng trị ỉa chảy, lỵ và trị rắn cắn; dịch cây đắp các vết loét.

Ở Thái Lan, vỏ thân dùng trị lỵ, trị cảm và viêm phế quản.

Ở Trung Quốc, vỏ và lá dùng trị ho gà, viêm khí quản mạn tính, suyễn khan, sốt rét, cảm mạo phát sốt, sưng amygdal, viêm gan cấp tính, phong thấp, đòn ngã, gãy xương, mụn nhọt sưng đỏ.

Cách dùng::: Ngày dùng 1-3g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu thuốc hay cao lỏng. Vỏ tán bột uống, hoặc sắc hay nấu cao uống với rượu (Rượu bổ Ditakina). Ngâm 20g dược liệu trong 100ml rượu 40o trong 15 ngày rồi lọc uống làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, ăn ngon miệng, chữa suy nhược, dày da bụng, bổ tỳ vị. Vỏ cây sắc đặc dùng ngậm chữa sâu răng.

Comments