Bài văn tả cây lộc vừng

Nhớ mùa hoa lộc vừng

đăng 09:15, 23 thg 10, 2014 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 15:12, 18 thg 11, 2014 ]

Cứ mỗi độ cuối thu, đầu đông, cây Lộc Vừng lại trổ bông e ấp. Không giống như muôn ngàn những loài cho hoa vào tiết xuân, Lộc Vừng chỉ đơm bông vào mùa lá rụng. 
Khi những chiếc lá thu vàng mỏng manh theo gió trải đầy sân, gieo vào lòng người những nỗi buồn man mác, cũng là lúc Lộc Vừng ban tặng hương sắc cho đời.
Những nghệ nhân Bonsai liệt kê Lộc Vừng vào hàng tứ quý: Sanh, Sung, Tùng, Lộc. Họ hàng thân mộc chẳng có mấy loài bì kịp Lộc Vừng về sức sống. Dù bị chặt ngang thân, nhưng chỉ cần có đất và nước, thì phần thân bị đứt lìa lại có khả năng mọc rễ và nảy lộc đâm chồi. Có lẽ vì thương thu tàn, đông quạnh, nên Lộc Vừng muốn làm một điều nhân ái: Bù đắp cho mùa thu những nụ hoa hiếm hoi của mình, tạo những chấm phá cách điệu, như những nốt hoa mỹ điểm xuyết trong bản nhạc Thiên Nhiên bất tận...
 

Chẳng có nét kiêu sa quý phái, nhưng hoa Lộc Vừng vẫn chiếm trọn những trái tim say thưởng ngoạn. Thích nhất là hoa Lộc Vừng trắng, với những cánh hoa yếu ớt mỏng manh, có nhụy phớt hồng. Và cũng thật khác biệt, Lộc Vừng treo hoa e thẹn, như muốn giấu bớt vẻ đẹp của mình trong phiến lá. Dù là lúc nở rộ, nhưng người ta chỉ thấy mùi hương Lộc Vừng thoảng bay theo gió, không ngào ngạt như Dạ Lan quý phái, không pha màu nắng gió như hương Cúc Vàng. Hương Lộc Vừng vừa có nét gì đó giống với hương Bưởi hương Cau miền quê yêu dấu, vừa có sự quyến rũ khêu gợi thầm kín khó tả của riêng mình.

Ngay cả khi đã tàn, hoa Lộc Vừng vẫn còn rất đẹp. Khi những cách hoa liêu xiêu tản mác nhẹ bay, thì những dải hoa Lộc Vừng đã bắt đầu kết trái. Trái Lộc Vừng cứ đung đưa theo gió đến tận mùa xuân, trông xa, tưởng như những dải hoa Lộc Vừng chỉ vừa thay áo mới, làm sao xuyến lòng người…

Bao lần xưa, khi chiều thu thơ thẩn bên những cây Lộc Vừng trầm mặc của Hà Nội. Ngắm những dải hoa tuyệt đẹp rủ bóng xuống mặt Hồ Gươm. Hoặc lúc buổi mai sớm, bên ly Cà Phê đặc sánh hương vị Tây Nguyên, trong vườn cây cảnh trên đất Sài Gòn, ngắm những bông Lộc Vừng còn ngậm hơi sương vừa chớm nở. Thấy lòng xao xuyến bồi hồi, như lạc bước trong thế giới vừa mơ vừa thực. Dường như thuật ngắm hoa là một đặc ân của tự nhiên ban cho mỗi người, giống như năng khiếu thẩm mỹ trong hội họa hay thi ca vậy. Nhưng thú ngắm hoa Lộc Vừng, không phải là ai cũng có.
 
Lê Nguyên Hồng

Cây xanh quanh Hồ Gươm

đăng 09:06, 23 thg 10, 2014 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 15:13, 18 thg 11, 2014 ]

Hồ Gươm với vẻ đẹp cổ kính, nên thơ là một phần linh hồn của Hà Nội, nơi dừng chân của khách thập phương. Cây xanh quanh Hồ Gươm, từ cây gạo, vông, lộc vừng, tếch đến liễu, phượng, si, sấu... đều tạo nên vẻ đẹp quyến rũ, nguồn cảm hứng sáng tác thơ ca, nhạc, họa bao đời, tô điểm thêm cho viên ngọc quý của Thăng Long nghìn năm văn vật.

Hồ Hoàn Kiếm từng mang tên hồ Lục Thủy, hồ Tả Vọng và Ngũ Vọng... đã tồn tại cùng Thăng Long - Hà Nội giữa đất trời và trong lòng người mấy nghìn xuân thu đắp đổi. Hồ là một phần linh hồn của người Hà Nội, nếu không nói là của bất cứ một người Việt Nam nào (ai đến Hà Nội mà chẳng phải một lần thăm Hồ Gươm - Hoàn Kiếm).

Hà Nội vẫn hút hồn du khách và mỗi chúng ta về mái cây óng ả, những con đường, dù rằng chưa thể nhiều cây xanh bằng một số thành phố khác trên thế giới. Nhưng, riêng con đường quanh Hồ Gươm, thì đã thành thân thiết với cõi lòng người Hà Nội. Có điều, nó cụ thể ra sao, có khi vất vả đời thường, ta lãng quên, ta bỏ lỡ một lời trao đổi.

Xin bắt đầu từ cửa đền Ngọc Sơn xuôi về phía nam, tức bờ phía đông của hồ.

Hồ Gươm có 2 cây gạo, một ngay cổng đền (vừa chết vì quá cỗi, được trồng thay bằng một cây mới mang từ Hà Tây về, phải trăm năm nữa mới xù những mắt gốc như cây cũ) và một cây nữa xế vườn hoa I.Gandhi đang lực lưỡng, trổ hoa, đỏ chói cuối xuân. Có 2 cây sung, một trên núi đá giả sơn, gầy guộc nhưng vẫn vươn lên, và một xế cửa nhà Ðèn, cạnh mấy cây Sưa (không phải cây Sữa) hoa trắng muốt mới tàn. Hai cây sung này không bị những vết chém ngang chém dọc như những cây sung của làng quê mà người ta hay lấy nhựa dán thái dương chữa cảm.

Gần chân Tháp Bút, có một bãi vông, gồm 7 cây cứ oằn mình lên, (một cây nữa là 8 lại lạc sang nhà Thủy Tạ). Lá vông như cây bài chuồn trong cỗ tú lơ khơ, hoa đỏ chói chang thay màu hoa gạo khi nắng hè non lấp ló.

Ta lang thang ít bước chân sẽ gặp 2 cây lộc vừng quý hiếm. Một cây đơn độc như cây "thế" khổng lồ, chỗ con đường Trần Nguyên Hãn gặp hồ thiêng. Nó như con ngựa tung bờm, chồm vó còn đang hăng phi nước đại, đến đây gặp làn nước xanh rờn nên đành dừng bước. Mỗi năm xuân thu nhị kỳ, cây thả hoa đỏ vào mặt hồ thành tấm thảm lung linh rập rờn theo sóng, lúc dạt xuống Hàng Khay, khi lan man lên chân cầu Thê Húc. Một cây nữa hợp quần 9 gốc, sát mép nước, cứ choãi mình soi bóng như cố uống lấy những tầng mây lãng đãng trong lòng hồ.

Cũng khoảng này, có 4 cây gỗ tếch khổng lồ (không kể đôi ba cây non mới trồng, hàng chục năm chưa vươn lên được). Lá tếch to như chiếc quạt nan, quạt giấy, thứ quạt mà nữ sĩ Hồ Xuân Hương phải thảng thốt viết thành:

Mười bảy hay là mười tám đây

Cho ta yêu dẫu chẳng rời tay...

Ngửa mặt lên trời, ta gặp ngọn nào cao nhất chiếm không gian bát ngát, là nó đấy, cạnh đôi ba cây "mõ", không biết tên thực nó là gì, nhưng mùa đông trụi lá, để phô ra những quả nâu già giống hệt cái mõ nhà chùa, nên người Hà Nội, nhất là trẻ thơ và thi sĩ, gọi nó theo hình, nên thành "cây mõ".

Ta đi thêm, ta thả hồn ta vào con đường ven hồ thơ mộng, gặp Tháp Hòa Phong, mà chiếc bình sành trên đỉnh còn hứng rượu từ trời rót xuống cho nghiêng ngả niềm say, ta thấy 2 cây si già rung những làn râu chưa bạc (có một cây bị đổ được cứu sống nhờ sức con người).

Góc hồ này từng có quán hoa hình vòng cung, mà nhà thơ Thanh Tịnh nói đây là chỗ nhìn toàn cảnh Hồ Gươm rõ nhất và đẹp nhất, có 40 gốc liễu thướt tha xõa tóc. Nó có lẽ là thế hệ liễu thứ ba chăng, khi trước đêm toàn quốc kháng chiến, bao nhiêu cây đổ để góp thêm sức mạnh. Sau hòa bình được trồng lại, nhưng trận bão tơi bời bẻ gục kiếp cây non và rặng liễu thướt tha này mới trồng lại lần nữa từ vài chục năm nay, đang thanh xuân thiếu nữ.

Rải rác đó đây, ta gặp những chiếc ô xanh, gốc thẳng mà xòa xanh cao tít, đó là 11 cây cọ, loài cây trung du đã cắm rễ sâu vào đất thiêng Hà Nội, xa cố đô Phong Châu để quen cùng thủ đô yêu dấu. Có cây đã chết, có cây mới được dặm thêm, nên con số này sẽ theo thời gian mà thay đổi.

Ta đã đứng phía bờ tây con hồ đầy trời và đầy gió, mượt mà và lồng lộng hồn ta. Không kể 5 cây me phía bên đường Lê Thái Tổ, thì bờ hồ, có một cây muỗm hơi phần đơn côi lẻ bóng, cạnh mấy cây dái ngựa (xin đừng coi là chữ thô tục) và đôi ba cây vàng anh hoa chùm màu vàng, cuối xuân tưng bừng, có những cái cánh rụng xuống, từa tựa chiếc chong chóng trẻ thơ.

Ðếm kỹ hay không cần đếm, cây bàng lá rậm, mùa xuân thắp nến, mùa đông gửi thư màu đỏ cho đời, có đến 17 cây xa, gần thấp thoáng. Ðứng một chỗ nào đó, nhìn sang bờ phía đông, ta gặp một chiếc dù xanh vượt trội. Ðó là cây dừa dầu duy nhất, thì ra nó mọc ngay cạnh cây gạo, mà đi gần ta không nhận thấy.

Vượt qua nhà Thủy Tạ xây năm 1940 đến chỗ đài phun nước, tức Quảng trường, Ðông Kinh Nghĩa Thục, 1 cây đề lao xao gió hè, mỗi chiếc lá một hình tim mỏng mảnh non màu đồng điếu, sẵn sàng rung động khi nhẹ một làn gió lướt qua...

Quanh hồ, nhội, sấu, đa, phượng, bằng lăng, cây sữa, muồng, vàng... còn chen vai nhau tỏa xanh mát rượi. Nhiều cây còn nghịch ngợm, cứ thò những ngón tay lá xuống mặt nước mà đùa chơi, ngày nắng hoa tím chen hoa đỏ, lá xanh nhưá bất tận... kể cả những quả sấu lửng lơ như nốt nhạc ghi vào nền trời để những ca công nhạc sĩ ve sầu nỉ non, rền rĩ đàn vĩ cầm.

Những chàng lực sĩ Xà cừ nơi hồ phía tây đôi khi ngó xuống mấy cụ già chơi cờ thế nhưng im lặng, không hề mách nước theo kiểu "cờ ngoài bài trong" như thông lệ. Quãng này là mát nhất của một vòng hồ gần hai nghìn thước, tức ba nghìn bước chân đi dạo.

Quanh hồ không một bóng cau hay bóng dừa. May ra còn đôi ba khóm tre khẳng khiu và rặng chà là cạnh 4 cây tếch.

Có ai người Hà Nội lại không một lần đi quanh Hồ Gươm? Ðó là lúc lòng đầy tâm sự, là lúc hai hồn tìm nhau trao nhau nửa lời chưa nói hết, hay sau một trận "đĩa bay" hôm cơm không lành canh không ngọt. Cũng có thể đó là du khách hay ai kia tỉnh xa hò hẹn một lần cùng Hà Nội? Một triệu hoàn cảnh khác nhau đều có thể gặp Hồ Gươm với tâm trạng vui buồn, và có lẽ ít ai nghĩ đến những cây gì đang phả hơi mát xuống cho mình kỷ niệm một đời...

Cây quanh hồ là kho tàng quý báu đời đời của Hà Nội mến thương.

Băng Sơn (Tạp chí Hà Nội ngày nay)

Cây lộc vừng anh tôi trồng

đăng 08:41, 23 thg 10, 2014 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 15:14, 18 thg 11, 2014 ]

Khi chiếc lộc non cuối cùng lớn thành lá biếc, cây lộc vừng trước cổng nhà tôi lại xanh tốt sum suê, bắt đầu một chu kỳ sinh trưởng mới.

Đã thành quen, chỉ nhìn vào cây lộc vừng tôi đã biết mùa xuân có còn, hay xuân đã đi qua. Và khi những tia nắng hè bắt đầu rực rỡ, trên mỗi kẽ lá trên cành lộc vừng thể nào cũng trồi ra những hạt tấm màu xanh lơ. Hạt tấm lớn dần đến khi thành một bông hoa lộc vừng giống như một chiếc đuôi chồn, chỉ khác thân và cuống hoa lộc vừng màu xanh mướt, chạy dọc theo cuống là những cánh hoa trổ đều, phay phảy. Vài ngày thoảng qua, những hạt màu xanh lơ bắt đầu hé nở. Hoa lộc vừng mềm như dải đăng ten buông thõng, cánh hoa nhỏ nhắn, đỏ tươi, chỉ cần một làn gió thổi nhẹ là cả chục, cả trăm bông hoa cùng đung đưa, đung đưa lặng thầm giao duyên cùng gió.

Ba mươi năm có lẻ, cây lộc vừng trước cổng nhà tôi trở thành chiếc ô khổng lồ che nắng cho bà con xóm láng, vào những buổi trưa hè, những buổi cấy cày tháng sáu. Các cô cậu học trò coi đây là bức tranh tĩnh vật, họ thường tụ tập, nô đùa hoặc trò chuyện vào những đêm trăng. Mẹ tôi coi từ thân, lá, cành, đến những đường vân, thớ gỗ của cây, hoa đều là máu thịt, là tim óc và hồn vong, bóng vía của anh tôi. Vì thế, bao nhiêu năm cách biệt, anh tôi vẫn sống trọn vẹn trong lòng mẹ và mọi thành viên của gia đình, làng xóm.

Sự hiện diện của cây lộc vừng là cả một câu chuyện về anh tôi.

Mùa xuân năm 1975, cả nước chuẩn bị bước vào chiến dịch Tổng tiến công giải phóng miền Nam, lớp thanh niên ngày đó ai cũng háo hức được lên đường tòng quân. Đang học cuối cấp ba, anh tôi cùng mấy người bạn trong lớp viết đơn xin được gác bút nghiên để lên đường ngay năm ấy, với một tinh thần bừng bừng khí thế của chiến dịch mùa xuân.

Đi được ít ngày, anh tôi đã gửi thư về. Thư viết, đơn vị anh đang gấp rút huấn luyện để kịp vào tham gia chiến dịch giải phóng miền Nam. Sau khi nhận được bức thư ít ngày, một buổi chiều, anh tôi đột ngột xuất hiện ngoài cổng. Không để cả nhà phải chờ lâu, anh tôi kể vắn tắt, đơn vị anh đang hành quân vào Nam, hiện đang nghỉ chân ngoài thị trấn ít phút, anh xin phép đơn vị tạt qua nhà chào thầy mẹ. Mẹ tôi đang lễ mễ bê rổ bèo từ dưới cầu ao lên, hiểu thấu câu chuyện, mẹ chẳng nói chẳng rằng, buông thõng rổ bèo xuống góc sân, rồi vội vã vào buồng rút chiếc áo dài thâm bà vẫn mặc mỗi khi lên chùa và tất tả nhào ra ngoài ngõ.

Hành động kỳ quặc của mẹ, mãi sau này tôi không thể nào quên. Vì quá lo lắng cho sự mất, còn của con, mẹ tôi lên chùa là để kêu cầu đức Phật che chở cho anh tránh được hòn tên mũi đạn ngoài mặt trận. Nhưng mẹ tôi chẳng ngờ, đấy là lần cuối cùng gặp cha mẹ của anh tôi!

Không chờ được mẹ, anh tôi trở về đơn vị, mang theo gương mặt buồn rười rượi. Nhưng vừa ra khỏi ngõ, bỗng anh xoay người, nhảy đại qua con rạch sang vườn cây của các cụ trong làng, xin một cây lộc vừng chỉ cao đến bắp chân anh mang về hì hụi đào hố trồng cạnh cổng nhà. Trồng xong, anh dặn tôi, khi nào mẹ về tôi nói giúp anh với mẹ, nhớ anh mẹ hãy nhìn vào cây lộc vừng là sẽ thấy anh trong đó. Anh sẽ mãi mãi ở bên mẹ tôi.

Theo đúng ý nguyện của anh, đều đặn ngày hai chiều, cha tôi tưới nước, chăm chút cho cây như chăm chút chính đứa con của mình.

Cây lộc vừng mỗi năm thay lá vào cuối mùa đông, sang xuân lại đâm chồi, nảy lộc. Cứ thế, mỗi năm thân cây lại nhỉnh ra một ít, cành lá thì dài ra thành tán. Dần dần bóng nó rợp một khoảng đất rộng ngay đầu ngõ.   

Ngày miền Nam giải phóng trôi qua một năm, năm năm rồi mười năm, anh tôi vĩnh viễn không trở về. Cha mẹ tôi cũng lần lượt qua đời. Có lẽ các cụ nôn nóng muốn nhanh sang thế giới bên kia để bù đắp những thiệt thòi cho đứa con chưa biết cầm cày đã khuất núi, nên chưa đầy nửa năm, hai người cứ theo nhau từ giã cõi trần.

Hơn ba mươi năm trôi qua, anh tôi biền biệt nơi chân trời ngàn dặm, nhưng dưới gốc cây lộc vừng, không ngày nào không có người ngả nón, duỗi chân thưởng thức những cơn gió mát lành, và nhiều thế hệ con trẻ đến ngồi chơi chuyền, chơi tam cúc, đọc sách, vẽ tranh dưới gốc cây ...

Tản văn của VŨ THỊ TUYẾT MÂY

Mùa hoa lộc vừng

đăng 08:37, 23 thg 10, 2014 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 15:14, 18 thg 11, 2014 ]

Mùa hoa lộc vừng


Cứ mỗi độ tháng sáu, tháng bẩy âm lịch, khi cái nắng như thiêu như đốt của mùa hè chợt tan đi nhè nhẹ trong những cơn gió heo may se lạnh, khi những chùm hoa phượng cháy đỏ như thắp lửa suốt những ngày hạ dài chợt biến thành những chùm quả treo lúc lỉu trên cành là lúc cây lộc vừng bung nở những chùm hoa đỏ thắm, soi mình bên bờ ao, đung đưa thả xuống như buông mành trên những cánh hoa bèo tim tím đang ngóc cổ vươn dậy trên mặt nước, sáng rực rỡ như những vầng hào quang lung linh trước bãi rong riềng, những bụi tre và vô vàn các loài cỏ dại nơi góc ao tù vốn tối tăm, ẩm ướt.

Mùa hoa lộc vừng thường bắt đầu từ tháng sáu cho đến hết tháng chín, đầu tháng mười âm lịch. Lạ một điều là vào mùa hoa, hoa nở liên tục hết đợt này đến đợt khác suốt mấy tháng liền. Hoa kết thành những sợi dây dài đến vài chục phân, treo lúc lỉu với vài chục bông hoa nhỏ li ti, tròn như hạt đậu và những cánh hoa nhỏ, mỏng tơ bung ra mềm mại, trông thật thích mắt. Những dây hoa thường đu mình trên những cành lộc vừng nho nhỏ, vươn dài ra phía ngoài thân cây với lớp vỏ sần sùi, trông xa như ai đó đang treo đèn kết hoa chào đón đêm hội hoa đăng. Chỉ đến cuối mùa, hoa mới kết thành những chùm quả hình thoi có bốn cạnh cân đối rất đẹp, bóc lớp vỏ xanh ra, bên trong là màu hồng tươi. Những dây quả treo lúc lỉu trên cành và khi đã ra quả rồi thì cây không còn ra hoa nữa, mà phải đợi đến tháng sáu âm lịch năm sau. Có lẽ điều đó đã làm cho hoa lộc vừng có một vẻ đẹp thật riêng, thật lạ mà những ai yêu thích nó không thể nào quên được.

Bà tôi thường kể cho chúng tôi nghe về sự tích hoa lộc vừng đến nỗi đứa nào cũng thuộc. Chuyện kể rằng, từ lâu lắm rồi, ở một làng bản xa xôi kia có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Họ cùng nhau thề rằng nếu không được sống cùng nhau, họ sẽ chết cùng nhau. Chàng trai đâu biết rằng vẻ tuấn tú và tài năng của chàng đang là niềm mơ ước của nhiều cô gái và cũng là nỗi ghen tức, căm giận của nhiều chàng trai quanh vùng. Còn cô gái vốn xinh đẹp, nết na nên có rất nhiều chàng trai muốn lấy về làm vợ, trong đó có tên công tử con nhà trưởng bản. Biết không thể nào chiếm được trái tim cô gái, hắn tìm kế hãm hại chàng trai. Hắn sai chàng vào rừng tìm báu vật cho lễ hội của làng. Rừng thiêng nước độc đã quật ngã chàng, làm cho chàng chết đi trong bệnh tật và kiệt sức. Cô gái chờ đợi mãi, quá nóng lòng nên quyết tâm trốn nhà, lặn lội đi tìm người yêu. Cô đi mãi, đi mãi cho đến lúc đôi chân rã rời không muốn bước thì tìm thấy xác người yêu. Cô đau đớn ôm xác người yêu khóc vật vã. Chôn cất người yêu xong, cô khóc ngày khóc đêm cạnh nấm mồ đó. Nước mắt rơi xuống cứ cạn dần, đến một ngày cô không còn khóc được nữa và ngã gục xuống bên cạnh nấm mồ. Khi cô chết đi, trên nấm mồ của chàng trai, nơi những giọt nước mắt của cô chảy xuống bỗng mọc lên một loài cây có thân sần sùi, cành lá xum xuê và đặc biệt là có những chùm hoa thả xuống cạnh mồ như hỏi han, như che chở cho nấm mộ chàng trai. Người ta gọi đó là hoa lộc vừng - một loài hoa tượng trưng cho tình yêu chung thuỷ của người con gái. Có lẽ vì vậy mà màu hoa đỏ đến nao lòng.

Ngày xưa, cây lộc vừng mọc nhiều lắm, mọc khắp nơi từ bờ ao, ngõ xóm đến những bờ đê chang chang nắng và suốt mùa hoa, tất cả những nơi đó lại đỏ rực hoa vừng, đẹp đến mê hồn. Cành lộc vừng rất dẻo nên chúng tôi thường chơi đuổi bắt trên cây và ngắt những chùm hoa xuống tết thành những chiếc vương miện, đội cho nhau đóng làm vua, làm hoàng hậu. Trong số những bạn bè ấu thơ, tôi chơi thân nhất với Loan. Tôi và Loan nhà gần nhau, học cùng lớp chuyên văn ngoài trường huyện và cùng sinh vào giữa mùa hoa lộc vừng. Chúng tôi luôn quấn quýt bên nhau, không rời nhau nửa bước. Cuối năm lớp chín, khi chúng tôi cùng nhau ra gốc lộc vừng ôn thi vào lớp mười, tôi đã lấy hoa tết mũ cô dâu cho Loan và Loan cũng tết cho tôi một chiếc vòng quàng cổ bằng hoa để làm chú rể. Chúng tôi chơi trò đám cưới thật vui, chỉ có hai đứa dưới rặng cây lộc vừng đỏ thắm hoa, soi mình bên dòng sông xanh, hiền hoà chảy, vi vu hát ca trong gió chiều. Rồi Loan lên Hà Nội học cấp III, chúng tôi ít gặp nhau. Từ đó chúng tôi chẳng liên hệ với nhau nữa dù trong mỗi đứa, ký ức tuổi thơ, ký ức về những mùa hoa lộc vừng vẫn còn vẹn nguyên, đầy ắp những cảm giác ngọt ngào.

Làng tôi đổi mới, mọi vật thay đổi. Người ta chặt đi không thương tiếc những cây lộc vừng to, già cỗi nơi bờ ao, ngõ xóm để lấy đất làm nhà, làm cửa, làm những công trình khác nhau. Những gốc lộc vừng nhỏ trở nên có giá trị. Người ta lấy những gốc cây về trồng lên bồn, lên chậu, cắt, tỉa, chăm sóc chừng một năm là bán được vài trăm nghìn, thậm chí có cây vài triệu. Thế là người ta đua nhau đi tìm kiếm, bới móc khắp nơi. May sao lần ấy tôi còn kịp về, giữ lại được cây lộc vừng to nhất cạnh bờ ao để mỗi mùa hoa nở, tôi lại được thả mình vào miền thơ ấu xa xôi, để người bạn của tôi bên trời Tây, có lúc nào đó trở lại thăm quê vẫn còn nhận ra một chút dấu vết tuổi học trò còn đằm sâu trong ký ức, để khỏi ngậm ngùi thương nhớ những năm tháng đã qua.

Hoàng Trọng Muôn

1-4 of 4