Một số triệu chứng của cây do thiếu chất

đăng 03:44, 17 thg 3, 2013 bởi công trình cây

Stt

Triệu chứng

Thiếu chất

1

Lá úa vàng bắt đầu từ đỉnh

N

2

Mép lá bị héo chết

K

3

Các gân lá úa vàng khi lá còn xanh

Mg

4

Trên lá ngũ cốc xuất hiện các đốm màu hơi nâu, hơi xám, hoặc hơi trắng

Mn

5

Trên lá hoặc thân xuất hiện màu hơi đỏ trên nền xanh

P

6

Lá non có những đốm xanh vàng với gân lá màu hơi vàng

S

7

Lá non có những đốm xanh vàng với gân lá màu xanh

Fe

8

Lá non đậu đỗ, khoai tây có đốm màu đen hơi nâu

Mn

9

Lá non nhất có đỉnh màu trắng

Cu

10

Lá non nhất có màu hơi nâu hoặc chết

B

  

Trên đây là các triệu chứng tương đối tiêu biểu của cây thiếu các chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, chưa phải là tất cả các triệu chứng có liên quan đến thiếu chất dinh dưỡng thể hiện trên cây. Mặt khác, thiếu chất dinh dưỡng đã thể hiện các tác động tiêu cực lên sinh trưởng và phát triển của cây từ rất sớm, trước khi cây thể hiện thành triệu chứng ra bên ngoài. Thí dụ như thiếu N cây có thể ra lá chậm, lá nhỏ, đẻ ít nhánh, v.v...

   Điều rất quan trọng đối với người nông dân là cải tiến cách thăm đồng theo truyền thống làm nông nghiệp trước đây bằng cách thăm đồng kèm theo một số đo đếm quan sát cần thiết có thể đánh giá chính xác hơn trạng thái của cây. Các quan sát, đo đếm cần được tiến hành là:

   * Sinh trưởng và phát triển của cây trồng: số nhánh, số lá, kích thước lá, màu sắc lá, các biểu hiện không bình thường trên cây, chiều cao cây, số nhanh hữu hiệu, v.v... Các quan sát đo đếm này cần được tiến hành đúng phương pháp, đúng số lượng cần thiết để tránh sai số và không phản ánh đúng trạng thái của cây trên đồng.

   * Độ đồng đều của quần thể cây trồng. Đồng đều về hình thái, đồng đều về giai đoạn phát triển, đồng đều về trạng thái sức khoẻ, đồng đều về khả năng tạo năng suất nông sản.

   * Tình hình diễn biến và gây hại sâu bệnh. cần nắm được tỷ lệ, chỉ số cây bị hại, mật độ sâu trên ruộng, giai đoạn phát dục của loài sâu gây hại, các loài thiên địch, các loài sâu bệnh khác đang có mặt với mật độ chưa cao.

   * Tình hình hệ sinh thái đồng ruộng: nước, cỏ dại, độ toi xốp của đất, tiểu khí hậu trên ruộng, v.v...

   Các theo dõi quan sát nêu trên đây có thể thực hiện một cách đơn giản và khi người nông dân đã quen thì không mất nhiều thời gian lắm.

   Việc bón phân hợp lý cần được tiến hành trên cơ sở phân tích và đánh giá hiện trạng cây trồng trên đồng ruộng một cách cụ thể và cẩn thận. Vì vậy, nếu không tiến hành việc điều tra, đánh giá đồng ruộng một cách thường xuyên, định kỳ thì ít nhất trước mỗi lần bón phân cũng cần có điều tra đánh giá.

   - Tiến hành dự báo những gì xảy đến trong những ngày sắp tới để thực hiện bón phân hợp lý.

   Để có thể bón phân hợp lý và phát triển đến mức cao nhất hiệu quả của phân bón, cần dự báo được diễn biến của cây trồng trong những ngày sắp tới, dự báo được diễn biến của hệ sinh thái đồng ruộng, dự báo được năng suất cây trồng có khả năng đạt được.

   Các cơ sở để tiến hành dự báo có thể là:

   + Kinh nghiệm làm nông nghiệp lâu đời của nông dân trên mảnh đất của mình.

   + Các dự báo trung hạn của cơ quan khí tượng thuỷ văn.

   + Các dự tính dự báo về phát sinh và diễn biến của sâu bệnh.

   + Những nhận xét và đánh giá cây trồng trên đồng ruộng ở thời điểm hiện tại.

   Thực tế sản xuất cho thấy, rất nhiều trường hợp nông dân tiến hành bón phân không hợp lý vì không dự báo được những gì sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới. Có trường hợp càng tiến hành bón phân, sâu bệnh càng phát triển mạnh, làm cho phân bón không những không phát huy được tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà còn làm tăng thêm mức độ gây hại của sâu bệnh dẫn đến năng suất bị mất trắng. Cũng có trường hợp, bón phân quá muộn, phân không góp phần làm tăng năng suất cây trồng mà còn để lại dư lượng trong nông sản làm giảm chất lượng của nông sản và lãng phí phân bón. Có trường hợp vừa bón phân xong trời mưa to, cây chưa kịp sử dụng thì phân bón đã bị trôi theo dòng nước mưa làm ô nhiễm ao hồ và sông suối.

   - Thực hiện việc bón phân hợp lý một cách linh động, sáng tạo.

   Do đặc điểm và tính chất của nó, sản xuất nông nghiệp thường không bao giờ là những công thức có sắn. Bón phân cũng vậy, là một hoạt động của sản xuất nông nghiệp, nó cần được giải quyết trên cơ sở những điều kiện cụ thể và thực tế của sản xuất.

   Với tinh thần sáng tạo, mọi loại phân bón có ở cơ sở sản xuất đều có thể sử dụng tốt với hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, bón phân hợp lý không nhất thiết phải có đầy đủ mọi loại phân bón cũng không nhất thiết có đủ số luợng của mỗi loại phân. Trong thực tế sản xuất, nông dân ít khi có sẵn và có đầy đủ các loại phân bón.

   Tính chất hợp lý trong việc sử dụng phân bón được đặt ra cả với trường hợp có đủ cũng như với trường hợp không có đủ các thành phần và số lượng phân bón cần thiết.

   Bón phân hợp lý được đặt ra trong tinh thần: rất tiết kiệm phân bón, phát huy đến mức cao mọi loại phân bón có ở nơi sản xuất, nhân lên cả tác dụng tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất các tác dụng tiêu cực của phân bón.

    Muốn sử dụng phân bón một cách sáng tạo cần nhận đúng các loại phân bón.

Xin giới thiệu ở đây một số cách nhận biết đơn giản một số loại phân bón thông thường bằng phương pháp hoá lý:

   * Nhận biết các loại phân khoáng tan hết trong nước (phân nitrat, phân amôn, phân kali).

        + Lấy mẫu phân bằng thìa, mũi dao, đưa lên ngọn lửa đèn cồn hoặc lửa than.

            Nếu phân cháy thành ngọn lửa: phân nitrat.

            Nếu phân chảy nước bốc khói: phân amôn.

            Không thấy thay đổi: phân kali.

        + Phân biệt các loại phân nitrat:

    Lấy 1 thìa phân nitrat bỏ vào cốc có nước vôi trong:

            Có mùi khai: phân nitrat amôn (NH4NO3)

            Không có mùi khai: phân nitrat natri (NaNO3) hoặc nitrat kali (KNO3). Để phân biệt 2 loại nitrat này, đốt phân lên ngọn lửa:

            Ngọn lửa màu vàng: NaNO3

            Ngọn lửa màu tím: KNO3

        + Phân biệt các loại phân amôn.

    Lấy 1 thìa phân amôn bỏ vào cốc có nước vôi trong:

            Không có mui khai: phân urê CO(NH2)2

            Có mùi khai: đổ tiếp vào dung dịch BaCl2. Kết tủa thành sunphat amôn (NH4)2SO2. Không kết tủa: NH4Cl hoặc NH4H2PO4. Cho AgNO3 vào dung dịch không kết tủa trên thấy:

            Kết tủa màu trắng: NH4Cl

            Kết tủa màu vàng: NH4H2PO4

        + Phân  biệt các loại phân kali.

    Hoà tan phân kali vào cốc đổ từ từ dung dịch BaCl2 vào:

            Có kết tủa: K2SO4

            Không có kết tủa: KCl

    * Phân biệt các loại phân khoáng ít tan hoặc không tan hết trong nước (phân lân, vôi, xianamit, kali magiê).

        + Nhận biết phân vôi: màu trắng ngà, trắng đục.

            Nhỏ axit vào phân, thấy sủi bọt: CaCO3, MgCO3.

            Không thấy sủi bọt: vụn sừng, prexipitat, thạch cao.

        + Phân biệt các loại phân khi nhỏ axit không sủi bọt.

            Đốt trên than, đèn cồn có mùi khét: vùn sừng.

            Không có mùi khét là 2 loại phân còn lại.

            Nhỏ AgNO3 vào: kết tủa màu vàng: prêxipitat.

            Không có màu: thạch cao (CaSO4. 2H2O)

        + Nhận biết phân kali magiê: màu xám, tan trong nước.

        + Nhận biết bột photphorit: màu đất, pH trung tính.

        + Màu đen, pH kiềm, nhỏ axit vào:

            Bốc hơi, kết tủa, vệt đen: phân xianamit canxi.

            Kết tủa lắng xuống đáy cốc: Tômasolac.

    Bên cạnh việc nhận biết các loại phân bón, cần biết cách tính lượng phân theo công thức phân bón.

    * Đối với các loại phân bón

    Thí dụ bón phân hoá học cho lúa theo công thức 60 : 40 : 30.

    Phân urê có 46% N, supe lân có 20% P2O5, clorua kali có 60% K2O.

    Cách tính như sau:

        Phân urê: 60 x 100/46 =  130 kg.

        Phân supe lân: 40 x 100/20 = 200 kg.

        Phân clorua kali: 30 x 100/60 = 50 kg.

    * Đối với các loại phân hỗn hợp:

   Tính số lượng phân hỗn hợp cần thiết trên cơ sở tỷ lệ giữa công thức phân bón cho cây so với công thức pha trộn của loại phân.

    * Thí dụ: Bón phân cho lúa với mức: 60 : 40 : 30 và dùng phân hỗn hợp 16 : 16 : 8.

        Tỷ số cần có là: 60/16; 40/16; 30/8 hay là 3,7; 2,5; 3,7.

   Với dãy số trên đây ta chọn số chẵn thấp nhất của 3 tỷ số, đó là số 2. Tính số phân hỗn hợp cần có là:

            100 kg x 2 = 200 kg phân amôphốtka 16 : 16 : 8.

   Như vậy ta đã cung cấp cho lúa được 32 : 32 : 16. So với công thức định bón là còn thiếu. Số phân còn thiếu cần sử dụng phân đơn để bổ sung vào.

            N còn thiếu 60 kg - 32 kg = 28 kg

            P2O5 còn thiếu 40 - 32 = 8 kg

            K2O còn thiếu 30 - 16 = 14 kg.

        Nếu sử dụng urê thì cần có: 28 x 100/46 = 60 kg urê.

        Dùng supe lân thì cần có: 8 x 100/20 = 40 kg supe lân.

        Dùng clorua kali thì cần có: 14 x 100/60 = 23 kg clorua kali.

   Tính hợp lý trong sử dụng phân bón được thể hiện ở hiệu quả của phân bón. Hiệu quả này được biểu hiện trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.

   Đánh giá hiệu quả kinh tế của phân bón người ta thường dùng 2 chỉ tiêu: lãi ròng và lãi suất.

   Lãi ròng (LR) giá trị của phần nông sản tăng lên do tác dụng của phân bón trừ đi số tiền chi phí để mua phân bón và trả công cho người bón phân:

            Trong đó: LR = TN - CP. (TN: thu nhập, CP: chi phí).

   Thực tế bón phân ở nước ta cho thấy lãi ròng của người nông dân đạt vào khoảng 50% số tiền bỏ ra để mua và sử dụng phân bón.

   Lãi suất (LS) là thương số giữa tiền thu nhập tăng lên do phân bón (TN) với số tiền bỏ ra để mua phân bón (CP): 

LS = TN/CP

   Thực tế sản xuất cho thấy muốn bón phân có lãi, lãi suất phải đạt cao hơn 2.

   Hiệu quả kinh tế của phân bón trong nhiều trường hợp không chỉ phát huy ngay trong vụ sản xuất đó mà nhiều lúc còn có những tác dụng tốt đối với các loại cây trồng ở vụ tiếp sau. Đặc biệt là các loại phân hữu cơ, phân hoá học có tác động tốt lên tập đoàn vi sinh vật đất, làm tăng hoạt động của nhóm vi sinh vật có ích. Vì vậy, khi tính toán hiệu quả kinh tế của phân bón cần có cách nhìn bao quát hơn.

   Hiệu quả xã hội của phân bón cho đến nay chưa được nông dân chú ý đến. Bón phân cho lúa nhiều khi mang lại hiệu quả kinh tế không cao so với bón phân cho rau, hoa, cây ăn quả. Tuy vậy, lúa là cây lương thực có vai trò rất quan trọng trong đảm bảo an toàn lương thực, gìn giữ ổn định cuộc sống của nhân dân, cho nên bón phân cho lúa mang lại hiệu quả xã hội rất cao.

   Bón phân có tác động rất lớn đến môi trường sống của con người, đến sự phát triển của các hệ sinh thái. Bón hợp lý cần đảm bảo tăng năng suất cây trồng nhưng không gây ô nhiễm, không ảnh hưởng đến sức khoẻ người nông dân và không có những tác động tiêu cực lên các hệ sinh thái.

   Bón phân hợp lý không phải là một công thức nghiệm đúng cho tất cả mọi trường hợp sử dụng phân bón ở bất cứ địa phương nào, vào bất cứ thời điểm nào. Chỉcó thể tạo được sự hợp lý khi vận dụng tốt những kết quả thu được và được tổng kết cho các trường hợp điển hình vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể một cách khoa học và sáng tạo.

   Đạt được sự hợp lý trong sử dụng phân bón người nông dân có thêm nhiều nguồn thu nhập: từ năng suất cây trồng được tăng lên, từ giá trị thu được trên đơn vịdiện tích được nâng cao, từ tiết kiệm được lượng phân bón, từ sự phát triển bền vững của các hệ sinh thái, từ sức khoẻ được bảo đảm, nâng cao, từ môi trường sống không bị ô nhiễm. Và đó là một trong những con đường tăng thu nhập, tiến tới làm giàu của người nông dân - cần được khai thác tốt.
Comments