Tin tức‎ > ‎

Bà con nông dân làm giàu

Phong trào làm kinh tế vườn ở Vân Canh phát triển khá

đăng 01:06, 24 thg 6, 2016 bởi công trình cây

Theo Hội Làm vườn huyện Vân Canh, phong trào làm vườn trên địa bàn huyện đang có bước phát triển khá. Hiện, toàn huyện có trên 3.106 vườn, tổng diện tích hơn 4.600ha; trong đó có 1.763 vườn nhà, diện tích 95ha; 748 vườn đã cải tạo, tu bổ, chiếm 42,42%; chưa được cải tạo, tu bổ 415 vườn, chiếm 23,53%. Có 587 vườn đồi; 756 vườn rừng, diện tích 1.072ha; chưa được cải tạo, tu bổ 94 vườn chiếm 7%; 1.237 vườn có ô dinh dưỡng, diện tích 92,8ha, chiếm 39,82% tổng số vườn toàn huyện.

Trên địa bàn huyện hiện có 1 trang trại tổng hợp của ông Nguyễn Trọng Đào, ở xã Canh Vinh; 261 hộ làm kinh tế gia trại trồng cây lâm nghiệp (cây keo) có quy mô lớn; 283 hộ có ao, hồ nuôi cá nước ngọt, tổng diện tích mặt nước hơn 5ha; hơn 85% số hộ đầu tư chăn nuôi gia súc gia cầm.

Các xã Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Thuận và thị trấn Vân Canh đã xây dựng mô hình điểm làm kinh tế VAC - kinh tế trang trại có hiệu quả. Nhiều mô hình mới, giống cây trồng mới tiếp tục được trình diễn và nhân rộng như mô hình nuôi heo rừng lai, nuôi nhím, dê lai; thâm canh cây keo lai…

Trong năm 2016, Hội Làm vườn huyện Vân Canh chú trọng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giúp hội viên phát triển kinh tế vườn đúng hướng, có hiệu quả; tổ chức cho hội viên tham quan các mô hình mới để học tập kinh nghiệm; chỉ đạo Hội cơ sở đổi mới nội dung sinh hoạt thiết thực, phù hợp.

Theo Kinhtenongthon

Nông dân Hà Tĩnh giàu lên từ kinh tế vườn

đăng 01:02, 24 thg 6, 2016 bởi công trình cây

Song song với việc thực hiện 19 tiêu chí XDNTM của Chính phủ, Hà Tĩnh còn sáng tạo thêm tiêu chí xây dựng vườn mẫu được người dân hưởng ứng tích cực bởi sự thiết thực. Và việc này đã tạo nên diện mạo mới trong các khu dân cư ở nông thôn.

Chủ trương đúng

Từ xưa, cha ông ta đã có câu: “Nhất mẫu trạch bằng bách mẫu điền”, có nghĩa: một mẫu vườn bằng trăm mẫu ruộng, để khẳng định vai trò của kinh tế vườn. Và phong trào cải tạo vườn tạp đã được thực hiện từ những năm 90 thế kỷ trước. Tại thời điểm đó, cải tạo vườn chủ yếu là chặt bỏ tràn lan, đưa cây giống vào sản xuất một cách ồ ạt, thiếu thông tin nguồn gốc nên dẫn đến tình trạng “trồng trước, chặt sau”; phát triển vườn thiếu quy hoạch, thiết kế, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật  vào sản xuất còn hạn chế; đặc biệt thiếu sự chỉ đạo đồng bộ, chưa có bộ tiêu chí cụ thể, vì vậy, hiệu quả kinh tế vườn chưa cao như mong đợi.

Theo số liệu điều tra kinh tế vườn của Hội Làm vườn và Trang trại Hà Tĩnh năm 2007, thu nhập từ kinh tế vườn chỉ chiếm 36% tổng thu nhập kinh tế hộ, tỷ lệ vườn hoang chiếm tỷ trọng cao (khoảng 30%) trong tổng số vườn hộ.

Trước thực trạng đó, bước vào xây dựng nông thôn mới, tỉnh Hà Tĩnh đã đưa ra quan điểm chỉ đạo nâng cao thu nhập từ kinh tế vườn, đồng thời ban hành chính sách khuyến khích phát triển mô hình vườn mẫu; giao Hội Làm vườn và Trang trại tỉnh chủ trì thực hiện. Hội Làm vườn và Trang trại tỉnh đã phối hợp với Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành 5 tiêu chí vườn mẫu; khởi động cho phong trào xây dựng vườn mẫu là những khu vườn được đầu tư, xây dựng một cách khoa học, bài bản: vườn hộ có quy hoạch 3D, 2D, trong vườn có hệ thống cấp, thoát nước; ứng dụng công nghệ tưới nước nhỏ giọt tiết kiệm, tưới nước tự động, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường, sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, sản xuất nông nghiệp hữu cơ… Sau hơn 1 năm triển khai tổ chức sơ kết, nhiều khu dân cư được chỉnh trang, nhiều vườn hộ đã được cải tạo, phát triển mang lại hiệu quả kinh tế khá rõ nét, có sức lan tỏa nhanh tại các địa phương.

Ông Lê Ngọc Hà, Phó chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới huyện Cẩm Xuyên, cho biết: “Xây dựng vườn mẫu đã làm chuyển biến nhận thức, ý thức của người dân tại các địa phương, tiềm năng kinh tế vườn được phát huy, việc chỉnh trang nhà ở, xây dựng hàng rào xanh, bảo vệ môi trường được chú trọng. Tạo ra diện mạo mới trong các khu dân cư về kinh tế, cảnh quan, môi trường; thay đổi tập quán sản xuất của người dân từ tự cung, tự cấp sang tư duy sản xuất hàng hóa, kết nối với thị trường...

Hiệu quả thiết thực

Anh Đinh Văn Dy (thôn Hà Thanh, xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà) cho biết: Trên khu vườn 2.300m2,  anh trồng các loại cây ăn quả như ổi Đài Loan, nhãn, hồng xiêm; diện tích còn lại trồng các loại rau màu và đào 200m2 ao nuôi cá chép. Chỉ trong năm đầu, thu nhập từ các loại rau ngắn ngày và cá đã đạt hơn 80 triệu đồng.

“Nghề làm vườn có cái vui nhưng mà mệt, phải siêng năng. Không chỉ luôn tay xới xáo, mà mỗi ngày 1-2 giờ sáng đã phải dậy chở hàng ra thành phố để nhập. Mỗi phiên như thế cũng thu được 400-500 ngàn đồng, Tết vừa rồi được giá rau, gia đình tôi thu 1-2 triệu đồng/ngày”, anh Dy phấn khởi chia sẻ.

Từ mô hình vườn mẫu thí điểm xây dựng ban đầu, đến nay toàn tỉnh Hà Tĩnh đã có trên 2.000 vườn mẫu, trong đó có 860 vườn cơ bản đạt chuẩn. Người dân đã biết phát triển kinh tế vườn bằng các giống cây ăn quả mới, ngắn ngày; các vườn rau, củ, quả như: mướp đắng, mướp ngọt, bí xanh… cho thu nhập từ 50-120 triệu đồng/vườn/năm. Xây dựng vườn mẫu đã làm thay đổi tập quán sản xuất của người dân từ sản xuất truyền thống tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, sản phẩm an toàn vệ sinh và kết nối thị trường; khai thác, phát huy hiệu quả tiềm năng đất vườn và tận dụng được lao động nhàn rỗi. Đặc biệt, phong trào xây dựng vườn mẫu lan nhanh đã làm chuyển biến sâu sắc nhận thức, ý thức của người dân trong việc chỉnh trang nhà ở, xây dựng hàng rào xanh, bảo vệ môi trường, thắt chặt thêm mối đoàn kết trong cộng đồng dân cư, cùng chung sức, đồng lòng xây dựng nông thôn mới.

Mới đây, trong chuyến công tác về khảo sát, đánh giá vườn mẫu tại Hà Tĩnh, GS.TS Ngô Thế Dân, Chủ tịch Hội làm vườn Việt Nam, cho rằng: “Hà Tĩnh là địa phương đầu tiên thực hiện xây dựng vườn mẫu có bài bản, được người dân hưởng ứng tích cực. Điều này minh chứng cho ý chí, quyết tâm đổi mới tư duy, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào lao động, sản xuất của người dân Hà Tĩnh. Kinh tế vườn đã mang lại hiệu quả thiết thực, bộ mặt nông thôn thay đổi và thực sự tiêu chí thứ 20 trong nông thôn mới Hà Tĩnh đã tạo ra nhiều miền quê đáng cần nhân rộng tại các địa phương trong cả nước”.

Theo kinhtenongthon

Trăm sự tại thiếu vốn

đăng 00:53, 24 thg 6, 2016 bởi công trình cây

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là một nội dung quan trọng được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ thành phố Hà Nội đối với định hướng phát triển nông nghiệp Thủ đô. Đặc biệt, chương trình NNCNC đã được UBND thành phố phê duyệt cùng với việc ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ. Tuy nhiên, đến nay chương trình vẫn chưa triển khai do chưa thể bố trí được nguồn vốn. 


Ngóng... cơ chế

Với người dân xã Đan Phượng (huyện Đan Phượng), việc sản xuất hoa chất lượng cao là hướng đi giúp không ít gia đình vươn lên làm giàu. Theo ông Chu Văn Hòa, Chủ nhiệm HTX Đan Phượng: Toàn xã có 176ha đất nông nghiệp, trước kia chủ yếu là trồng lúa hiệu quả kinh tế thấp. Để giúp nông dân nâng cao thu nhập từ đồng đất, HTX đã mạnh dạn hướng dẫn bà con chuyển sang sản xuất hoa chất lượng cao. Bước đầu cho thấy, trồng hoa cho thu nhập cao gấp 6-10 lần so với sản xuất lúa. Hiện toàn xã có khoảng 8ha sản xuất hoa chất lượng cao với hai loại chính là hoa cúc và hoa ly, mang lại thu nhập khoảng 300-500 triệu đồng/ha. Anh Nguyễn Văn Dư, một trong những hộ trồng hoa xã Đan Phượng cho biết: Sản xuất hoa chất lượng cao yêu cầu kỹ thuật chăm sóc rất tỉ mỉ, hệ thống nhà vườn phải được đầu tư bài bản. “Người trồng hoa Đan Phượng đang rất mong chương trình NNCNC được thực hiện sớm bởi với cây hoa, nếu đi theo hướng công nghệ cao sẽ cho hiệu quả rất lớn” - anh Dư nói. 
Không chỉ người trồng hoa tại Hà Nội ngóng chương trình NNCNC được triển khai mà nhiều hộ trồng cây ăn quả cũng mong chờ chương trình không kém. Ông Nguyễn Chiến Thắng, Phó Chủ tịch UBND xã Nam Phương Tiến (Chương Mỹ) cho rằng: Nếu chương trình NNCNC được triển khai với cây bưởi Diễn thì đây đúng là tin vui cho nông dân trong xã, bởi khoảng 5 năm trở lại đây, loại cây đặc sản này đã trở thành cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, mang lại ấm no cho nhiều gia đình. 

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Huy Đăng cho biết: Hà Nội đã xây dựng Chương trình phát triển NNCNC của thành phố giai đoạn 2016-2020 với mục tiêu đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao năm 2020 chiếm khoảng 35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp thành phố; hoàn thành 1 đến 2 khu NNCNC; có 10 doanh nghiệp và 300 trang trại nông nghiệp công nghệ cao. Chương trình triển khai trên tất cả các lĩnh vực như: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản... Để hiện thực hóa chương trình, Hà Nội xây dựng một số chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực này và được HĐND thành phố thông qua. Tuy nhiên, đến nay do chưa bố trí được nguồn vốn nên chưa triển khai tới các địa phương, đơn vị.

Hướng đi tất yếu

Theo thống kê của ngành nông nghiệp, việc sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm NNCNC trên địa bàn thành phố còn ở quy mô nhỏ, phân tán, chưa có các doanh nghiệp, trang trại, các khu, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất. Hiện tỷ lệ sử dụng giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản công nghệ cao đạt khoảng 30%; diện tích cây trồng mới đạt khoảng 5%, chăn nuôi trang trại mới đạt 20-25%; diện tích nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao mới đạt 2% nên giá trị thu được trên diện tích đất canh tác chưa cao. 

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Huy Đăng cho biết: Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên là do hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp trong các vùng chuyên canh tập trung chưa được đầu tư đồng bộ; nguồn nhân lực NNCNC còn thiếu; vốn đầu tư sản xuất NNCNC chưa đáp ứng được yêu cầu... Để khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vào NNCNC, thành phố đã ban hành một số chính sách ưu đãi về đất đai, hỗ trợ xây dựng hạ tầng; ưu đãi về thuế, xúc tiến thương mại... Đặc biệt, các đơn vị sản xuất NNCNC sẽ được ưu tiên vay vốn từ Quỹ Khuyến nông thành phố, Quỹ Hỗ trợ nông dân, Quỹ Đầu tư phát triển thành phố. Trường hợp các tổ chức, cá nhân không vay vốn tại các quỹ trên mà vay vốn ngân hàng thương mại, được hỗ trợ 100% lãi suất tính theo mức lãi suất ngân hàng và nhiều chính sách ưu đãi vay vốn khác. Tuy nhiên, cái khó là đến nay nông dân và doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận được vì chưa có nguồn vốn. 

“Thời gian qua, dù thành phố chưa bố trí được kinh phí song các đơn vị trực thuộc Sở NN&PTNT, các trung tâm, phòng ban đã tiến hành kiểm tra thực tế tại các quận, huyện, các điểm sản xuất để nắm tâm tư, nguyện vọng của người dân. Đồng thời, lắng nghe những ý kiến, kiến nghị để việc triển khai chính sách được đúng, trúng, hiệu quả. Bước đầu ngành nông nghiệp đã khảo sát chọn vùng, chọn điểm, chọn đối tượng để sản xuất” - ông Nguyễn Huy Đăng cho biết. 

Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là hướng đi được nông dân tin tưởng, mong chờ trong bối cảnh phát triển kinh tế cũng như nhu cầu về thực phẩm sạch hiện nay. Rất nhiều địa phương đang mong muốn chương trình sớm được thực hiện để nâng cao giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, hướng đến bảo vệ môi trường sinh thái và an sinh xã hội.

Theo Hanoimoi

Vì sao chưa thể mở rộng sản xuất nông nghiệp

đăng 18:56, 2 thg 3, 2016 bởi công trình cây

Thực hiện Chương trình 02 của Thành ủy, huyện Chương Mỹ đã tập trung dồn điền, đổi thửa, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy vậy, nông dân vẫn gặp không ít khó khăn nên chưa thể mở rộng quy mô sản xuất...

Trang trại trồng bưởi Diễn của hộ anh Trần Văn Mạnh thuộc khu đồng chuyển đổi của xã Trần Phú rộng 5.000m2 trước đây trồng độc canh cây sắn. Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, gia đình anh đã trồng 250 gốc bưởi Diễn và vụ bưởi vừa qua cho thu nhập 200 triệu đồng. "Năm qua bưởi mất mùa, số lượng quả giảm, giá bưởi không cao. Đầu vụ, bán giá 30 nghìn đồng/quả, cuối vụ chỉ còn 20 nghìn đồng/quả. Tuy vậy, thu nhập từ trồng bưởi vẫn cao hơn nhiều so với trồng các cây khác" - anh Mạnh cho biết. 
Theo Chủ tịch UBND huyện Chương Mỹ Đinh Mạnh Hùng, không riêng các hộ dân xã Trần Phú, thực hiện Chương trình 02 của Thành ủy, huyện Chương Mỹ đã quy hoạch lại đất đai, vùng sản xuất chăn nuôi tập trung nên thuận lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Đến nay, toàn huyện đã chuyển đổi được gần 1.300ha, trong đó: 425 trang trại cho doanh thu 600 triệu đồng đến 2 tỷ đồng/năm và hơn 600 gia trại cho thu nhập cao. Ngoài ra, toàn huyện hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh quy mô lớn như: Sản xuất lúa hữu cơ ở xã Đồng Phú; trồng cây ăn quả bao trái sinh học thị trấn Xuân Mai; mô hình hoa lan, hoa ly xã Thụy Hương; chăn nuôi tập trung xã Lam Điền, Đại Yên cho thu nhập khá.

Tuy vậy, sản xuất nông nghiệp Chương Mỹ đang gặp không ít khó khăn khiến người dân lúng túng trong việc mở rộng quy mô sản xuất. Đơn cử, nhiều nơi người dân chưa được hướng dẫn cụ thể cho từng loại mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thị trường tiêu thụ nông sản cũng chưa ổn định, hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất còn nhiều hạn chế... Tại xã Trần Phú, dù đã có quy hoạch vùng trồng bưởi với diện tích hàng chục héc ta nhưng nhiều năm nay chưa được đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, thành thử việc vận chuyển nông sản bằng xe cơ giới khó khăn. "Chúng tôi mong thành phố đầu tư làm tuyến đường giao thông để thuận lợi cho việc vận chuyển nông sản, vật tư nông nghiệp và xây dựng kênh mương tưới nước cho cây trồng" - anh Mạnh đề nghị.

Giám đốc Công ty cổ phần Tiên Viên Đặng Đình Tiên cho biết, trang trại của công ty đang nuôi 60.000 gà thịt và đẻ trứng trên địa bàn huyện Chương Mỹ nhưng gặp khó khăn là làm thế nào để chiếm lĩnh thị trường. "Chúng tôi có nguyện vọng đầu tư xây dựng khu giết mổ tập trung để khép kín chuỗi từ sản xuất, chế biến đến khâu tiêu thụ. Tuy vậy, đề nghị mãi vẫn chưa được ngành chức năng cấp phép" - ông Tiên cho biết thêm.

Trên thực tế, hiện nay, một số trang trại trên địa bàn thành phố cũng đang lâm vào cảnh thiếu vốn, mặt bằng sản xuất như các hộ dân ở huyện Chương Mỹ. Có trang trại giá trị hàng tỷ đồng nhưng khi vay vốn chỉ vay được vài chục triệu nên bà con khá lúng túng trong đầu tư. Theo Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Xuân Việt, về việc này, chính quyền phải chủ động liên hệ với các ngân hàng thương mại để tháo gỡ giúp dân. Thành phố đã có cơ chế, chính sách khá cụ thể, các sở, ngành liên quan phải tạo điều kiện tốt nhất thu hút đầu tư vào nông nghiệp.

Theo hanoimoi

Phát triển nghề trồng ổi ở Sơn Dương

đăng 18:51, 2 thg 3, 2016 bởi công trình cây

Vài năm trở lại đây, Sơn Dương (Quảng Ninh) đã mạnh dạn chuyển đổi sang các mô hình canh tác tập trung trồng cây ăn quả, đặc biệt là giống ổi Đài Loan, loại cây ăn quả có giá trị kinh tế, đã mang lại thu nhập cao cho bà con nơi đây.


Còn nhớ, năm 2010, khi giống ổi Đài Loan lần đầu được người nông dân ở Dân Chủ, huyện Hoành Bồ đưa về địa phương trồng đã phát triển tốt, cho hiệu quả kinh tế cao. Từ đó, nhiều hộ dân trong xã cũng đã mạnh dạn áp dụng mô hình này.

Ông Lý Xuân Thành, Chủ tịch Hội Nông dân xã Sơn Dương cho biết: Tháng 12-2012, giống ổi này đã được đưa vào trồng ở Sơn Dương với sự hỗ trợ về kỹ thuật và vốn của huyện Hoành Bồ theo chương trình nông thôn mới. Tuy nhiên, khó khăn ban đầu là người dân chưa thực sự mặn mà với giống mới này bởi nhiều người cho rằng, đất đai nơi đây chỉ phù hợp trồng mía và cây nông nghiệp truyền thống. Chính vì thế, lãnh đạo xã và một số hộ dân trong xã là những người gương mẫu, đi tiên phong… trồng thử nghiệm với tổng diện tích khoảng 3 sào.

Nhờ sự cần cù, chăm chỉ, chăm bón đúng kỹ thuật của người nông dân Sơn Dương, cây ổi phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng, sinh trưởng phát triển tốt, cho hiệu quả kinh tế cao, đạt từ 70-80 triệu đồng/sào/vụ, gấp đôi so với trồng lúa và cây nông nghiệp truyền thống. Giống ổi này trồng ở Sơn Dương cho quả to, thơm ngọt, vỏ mỏng, bề ngoài sáng đẹp…

Hơn nữa, người dân còn được hướng dẫn cụ thể quy trình chăm sóc, kỹ thuật triết ghép nên ổi sinh trưởng tốt, sai trái, năng suất cao. Ổi Sơn Dương được thu hoạch 2 vụ/năm thường vào tháng 4 và 7 âm lịch hàng năm, được người tiêu dùng ưa chuộng, giá bán trên thị trường cũng tương đối ổn định từ 30.000 - 35.000 đồng/kg.

Thấy rõ hiệu quả của cây trồng mới, mô hình nhanh chóng được người dân hưởng ứng nhân rộng, số hộ tham gia trồng ổi nhanh chóng tăng cao. Theo thống kê, từ khoảng 3 sào ổi ban đầu nay trên địa bàn xã hiện đã có trên 4ha trồng ổi, hộ trồng ít đạt 1-2 sào, hộ trồng nhiều trên 1ha. Nhiều khu trồng tập trung theo hướng chuyên canh đã hình thành ở các thôn: Trại Me, Đồng Ho, Đồng Giữa, Đồng Đặng…

Hiệu quả kinh tế rõ rệt, thu nhập của người trồng cây ăn quả ở Sơn Dương đạt trung bình từ 20-40 triệu đồng/vụ. Trong xã “triệu phú” trồng ổi thu nhập từ 400-450 triệu đồng/năm, tiêu biểu như các hộ gia đình ông Phan Văn Choong, Ân Văn Kim (thôn Đồng Đặng)… cũng không còn là hiếm.

Để việc trồng và tiêu thụ sản phẩm này vào quy củ, cuối năm 2013 xã Sơn Dương cũng thành lập Tổ hợp tác xã (HTX) tiêu thụ nông sản Sơn Dương nhằm tìm đầu ra ổn định, hạn chế những biến động của thị trường. Trên cơ sở đánh giá của những thành viên có kinh nghiệm trong HTX, sự giám sát của UBND xã và cơ quan chuyên môn của huyện, Tổ HTX tiến hành khảo sát, xây dựng giá sàn 3 tháng 1 lần áp dụng bán sản phẩm cho tiểu thương, các doanh nghiệp.

Tổ HTX cũng vào cuộc vận động các hộ trồng cây ăn quả tham gia và thực hiện theo giá sàn nhằm ổn định giá cả, đảm bảo uy tín chất lượng và thu nhập của người nông dân. Đồng thời, Tổ HTX cũng đề ra các quy định nội bộ khuyến khích người dân trồng ổi theo đúng quy trình kỹ thuật, hướng tới sản phẩm sạch, không sử dụng, lạm dụng các loại thuốc không được phép…

Điều đáng mừng, năm 2013, Sơn Dương đã được huyện Hoành Bồ đưa vào quy hoạch vùng trồng cây ăn quả tập trung của huyện. Năm 2014, ổi Đài Loan cũng đã được huyện Hoành Bồ đăng ký trong chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP) của tỉnh. Với những nỗ lực và những chuyển động tích cực trên, tin tưởng rằng nghề trồng ổi ở Sơn Dương sẽ phát triển tốt, mở ra hướng mới cho người dân phát triển kinh tế, làm giàu trên mảnh đất quê hương bằng chính sức lao động của mình.

Theo báo Quảng Ninh

Cây ăn quả Hà Nội: Có thương hiệu vẫn khó tiêu thụ

đăng 17:41, 29 thg 2, 2016 bởi công trình cây

Sau 4 năm triển khai đề án phát triển cây ăn quả giá trị cao, Hà Nội đã và đang hình thành nhiều vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, từng bước xây dựng thương hiệu cây ăn quả Thủ đô.
Nhiều nông dân đã thành triệu phú

Dù cuối vụ thu hoạch cam Canh, bưởi Diễn nhưng xã Nam Phương Tiến (Chương Mỹ) từ đầu làng đến cuối xóm ở đâu không khí cũng rôm rả, mọi câu chuyện của người dân đều xoay quanh cây bưởi Diễn được giá; nhiều gia đình trồng cây bưởi Diễn trở thành triệu phú. Phó Chủ tịch UBND xã Nam Phương Tiến Nguyễn Chiến Thắng cho biết: Cây bưởi Diễn "bén duyên" đất Nam Phương Tiến cách đây vài năm và thực sự trở thành cây làm giàu cho nông dân. 

Trước đây, người dân địa phương trồng sắn, lúa, thu nhập bấp bênh, sau khi dồn điền, đổi thửa đã hình thành vùng sản xuất tập trung chuyên canh trồng bưởi Diễn cho thu nhập cao, từ 300 đến 500 triệu đồng/ha. Nhận thấy hiệu quả từ cách chuyển dịch cơ cấu cây trồng của Nam Phương Tiến, nhiều xã lân cận đã làm theo, tích cực mở rộng diện tích trồng cây ăn quả đặc sản với quy mô hàng chục héc ta. Hiện nay, bưởi Diễn trở thành cây trồng chủ lực trong chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện Chương Mỹ.
Phát triển cây ăn quả đặc sản là một trong nhiều giải pháp góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân ngoại thành. Tại các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, bằng sự nỗ lực của người dân và sự hỗ trợ của thành phố, diện tích trồng cây bưởi Diễn, nhãn chín muộn ngày càng mở rộng, hiện nay đã đạt hơn 400ha. Ông Trần Văn Bảy, thôn Ba Lương, xã Song Phương (Hoài Đức) cho biết, được chính quyền địa phương tạo điều kiện về đất đai, gia đình đã trồng hơn 2.000 cây nhãn chín muộn đã cho thu hoạch vụ thứ ba. Do chín muộn hơn nhãn thường nên giá bán nhãn chín muộn luôn cao, dao động 35.000-40.000 đồng/kg, tính trung bình cho thu nhập 700-800 triệu đồng/ha, lãi gấp 8-10 lần trồng lúa. Mới đây sản phẩm nhãn chín muộn Hoài Đức đã được Bộ NN&PTNT gửi mẫu phân tích để xuất khẩu sang Mỹ. 

Tiêu thụ nông sản vẫn khó khăn 

Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ cho biết: Cam Canh, bưởi Diễn, nhãn chín muộn, chuối tiêu hồng là bốn cây ăn quả chủ lực nằm trong đề án phát triển cây ăn quả đặc sản Hà Nội, diện tích chuyên canh trồng bưởi Diễn khoảng 2.710ha tập trung tại các huyện Chương Mỹ, Phúc Thọ, Quốc Oai, Hoài Đức… Đi đôi với mở rộng diện tích trồng cây ăn quả đặc sản, ngành nông nghiệp Hà Nội đã phối hợp với các địa phương xây dựng và duy trì được 3 nhãn hiệu "Bưởi Quế Dương", "Bưởi Phúc Thọ", "Bưởi Chương Mỹ" và nhãn hiệu cam Canh Kim An (Thanh Oai). 

Hà Nội đã xây dựng 31 mô hình điểm có chỉ dẫn địa lý và đăng ký bảo hộ thương hiệu về cây ăn quả đặc sản tập trung gồm: Vùng trồng bưởi Diễn ở các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức; nhãn chín muộn Quốc Oai, Hoài Đức; chuối cấy mô Gia Lâm, Đông Anh; cam Canh Thanh Oai và Thường Tín. Ngoài ra, thành phố đang xây dựng vườn cây ăn quả đầu dòng quy mô sản xuất 150.000 cây giống chất lượng cao và trồng trình diễn một số giống cây ăn quả đặc sản. Hà Nội cũng vừa ký kết với đối tác Nhật Bản để xuất khẩu trái cây đặc sản. 

Chất lượng trái cây đặc sản Hà Nội đủ sức cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu và các địa phương trong nước, tuy nhiên vì nhiều lý do khâu tiêu thụ vẫn gặp khó khăn. Các sản phẩm đã có nhãn hiệu, thương hiệu nhưng chưa xuất hiện nhiều trong siêu thị, nhà hàng trên địa bàn thành phố. Phần lớn nông dân tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ thuận mua, vừa bán, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất và doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm. 

Theo ông Nguyễn Văn Chí, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp Hà Nội, để cây ăn quả phát triển bền vững, cùng với việc hướng dẫn quy trình kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản và tiêu thụ, cần tăng cường công tác xúc tiến tiêu thụ sản phẩm; xây dựng các chính sách đặc thù hỗ trợ xúc tiến thương mại cho các sản phẩm cây ăn quả đặc sản.

Theo Hà Nội Mới

bưởi da xanh bến tre: Cơ hội và thách thức

đăng 15:38, 13 thg 12, 2015 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 11:48, 16 thg 2, 2016 ]

Bến Tre có diện tích trồng cây ăn trái 27,5 ngàn héc-ta, với nhiều chủng loại cây nổi tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó bưởi da xanh được đưa vào nhóm cây ăn quả chất lượng cao, có tiềm năng và lợi thế thị trường trong và ngoài nước.

Bưởi da xanh (BDX) có thể xem là một trong 5 loại cây ăn trái đặc sản của Bến Tre và được xác định là cây ăn trái chủ lực có lợi thế trong phát triển. Hiện nay, diện tích trồng BDX toàn tỉnh là 5.500ha, chiếm 20% diện tích cây ăn trái, trong đó diện tích đã và đang cho trái 4.200ha; năng suất 11,4 tấn/ha, sản lượng 47.670 tấn. Vùng trồng tập trung ở các huyện Châu Thành (1.706ha), Mỏ Cày Bắc (1.023ha), Giồng Trôm (989ha), Chợ Lách (573ha) và TP. Bến Tre (599ha).

Tiềm năng phát triển

Đây là loại cây trồng có nhiều ưu thế để phát triển: với ưu thế khí hậu nhiệt đới ven biển và nhiều cửa sông cuối nguồn bồi đắp phù sa cho ba dải cù lao, Bến Tre hình thành nên một vùng BDX xanh tốt, giúp cho các nhà vườn nâng cao hiệu quả. Trình độ canh tác của nông dân ngày càng tiến bộ góp phần nâng cao vị thế BDX so với nhiều cây trồng khác. Bến Tre có nhiều cơ sở cung cấp giống BDX chất lượng cao, thuần chủng. Từ điều kiện thời tiết, khí hậu không cực đoan, nông dân có thể điều chỉnh cho cây ra hoa và cho trái rải vụ quanh năm phục vụ cho thị trường tiêu dùng. Đây là lợi thế vượt trội mà không phải địa phương nào cũng làm được. Một ưu điểm khác của loại trái này là bảo quản được lâu, ít hao hụt trong vận chuyển.

Thời gian qua, tỉnh quan tâm đầu tư rất nhiều về mặt chính sách như: xây dựng chương trình phát triển 4.000ha BDX giai đoạn 2006-2010, xây dựng chương trình phát triển BDX tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2015 và đến 2020, xây dựng quy hoạch đến năm 2020 diện tích bưởi ở Bến Tre là 6.500ha. Xây dựng Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2015 và hướng đến năm 2020, cây BDX là một trong 5 cây ăn trái chủ lực của tỉnh cần phải được tập trung đầu tư phát triển vùng chuyên canh, hướng đến thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học nhằm tạo ra sản phẩm có năng suất và chất lượng cao, có sức cạnh tranh đáp ứng nhu cầu thị trường để nâng cao hiệu quả kinh tế vườn, thu nhập cho người làm vườn.

Cơ hội và thách thức

Sự chỉ đạo sâu sát của UBND tỉnh, ngành Nông nghiệp các cấp, năng lực của đội ngũ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, sự nỗ lực của nông dân đã góp phần vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất BDX. Mô hình liên kết “4 nhà” bước đầu đã kích thích nhiều tổ chức, doanh nghiệp và nông dân tham gia.

BDX có chất lượng vượt trội hơn các giống bưởi khác, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng bưởi và đang có tiềm năng phát triển ở Bến Tre. Nhu cầu thị trường về bưởi tươi tăng cao trong những năm gần đây cả trong và ngoài nước do những đặc tính và công dụng tốt của trái bưởi lên sức khỏe con người. Thị trường xuất khẩu BDX ngày càng rộng thông qua việc quảng bá thương hiệu BDX ở các hội chợ trong nước và quốc tế. Các thị trường có thể xuất khẩu EU, Singapore, Nhật, Nga...

Tuy nhiên, thực tế chất lượng BDX của Bến Tre không đồng đều, sản lượng còn thấp làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Diện tích đất sản xuất của hộ nông dân nhỏ lẻ, không tập trung. Chưa có nhiều diện tích chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm có thể nguy cơ mất thị trường. Các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc... sản xuất bưởi có chất lượng cao đồng đều, giá thấp. Tình hình dịch hại cây trồng ngày càng diễn biến phức tạp (sâu đục trái, bệnh vàng lá Greening…). Chi phí đầu vào tăng cao như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến sinh trưởng và phát triển BDX, những thay đổi bất thường của thời tiết khiến quá trình chăm sóc gặp nhiều khó khăn. Thị trường luôn biến động, các mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ và sự gắn kết chuỗi giá trị sản phẩm chưa thật sự chặt chẽ, còn mang tính hình thức, vì vậy phát huy hiệu quả chưa cao.

Vì không có vùng nguyên liệu tập trung nên bưởi có chất lượng tốt thường không nhiều, khó thu mua với số lượng lớn. Sản lượng bưởi đạt chuẩn chất lượng VietGAP và GlobalGAP chưa nhiều, diện tích nhỏ lẻ nên chưa ổn định được nguồn sản phẩm và sự đồng đều về chất lượng khi  khách  hàng yêu cầu. Những khi thị trường hút hàng, thương lái không thu gom đủ lượng BDX để cung cấp. Khi thu mua từ nhiều vườn khác nhau, chất lượng thường không ổn định. Do phải cạnh tranh nhiều khi thu mua, nên thương lái khó kiểm soát được sản lượng và chất lượng bưởi. Tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân còn yếu, chưa đủ sức làm cầu nối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, do vậy tính chủ thể của nông dân trong sản xuất còn hạn chế. Khâu tổ chức và quản lý sản xuất tiêu thụ chưa có người đứng đầu để điều phối các hoạt động nên chuỗi giá trị còn rời rạc.

Giải pháp trong thời gian tới

Tập trung phát triển chương trình phát triển BDX tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2015 và đến 2020 nhằm mục tiêu: xây dựng vùng nguyên liệu BDX tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, mở rộng thị trường; đa dạng hóa sản phẩm từ bưởi và tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng bưởi với các giải  pháp cụ thể.

Giải pháp liên kết sản xuất: triển khai xây dựng mô hình liên kết sản xuất giữa người trồng với các doanh nghiệp. Xây dựng liên kết ngang giữa nông dân trồng BDX hình thành chi hội nông dân trồng BDX trên địa bàn từng ấp, xã. Xây dựng liên kết dọc giữa nông dân trồng BDX và thương lái. Liên kết “4 nhà” cần đa dạng liên kết trong từng khâu hay liên kết nhiều khâu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ, liên kết nhiều thành phần trong chuỗi sản phẩm từ cung cấp vật tư đầu vào đến cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, để bảo đảm sự bền vững của liên kết thì chữ “tín” phải được các bên coi trọng và nông dân phải xác định đây là việc làm vì lợi ích lâu dài cho chính mình.

Giải pháp khoa học công nghệ: ứng dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến để đạt chất lượng trái cao, đồng đều theo hướng an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. Mở rộng diện tích áp dụng quy trình sản xuất vì đây là điều cốt lõi để nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định vị thế của sản phẩm không chỉ phục vụ thị trường xuất khẩu mà cả thị trường trong nước. Tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh, quản lý dịch hại tổng hợp theo hướng hạn chế sử dụng thuốc hóa học độc hại. Ứng dụng công nghệ mới nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch, bảo quản và chế biến. Bảo tồn các giống BDX chất lượng cao và thuần chủng.

Giải pháp thị trường: tăng cường công tác quảng bá thương hiệu để thu hút khách hàng qua các kênh: tham dự Hội thi trái ngon, Hội chợ quốc tế, internet. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty, hợp tác xã tham gia hội chợ triển lãm nông sản trong và ngoài nước nhằm giới thiệu và quảng bá sản phẩm. Xây dựng chương trình phát triển thị trường, thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp hình thành kênh phân phối đến thị trường tiêu thụ. Xây dựng tên và thương hiệu cho sản phẩm BDX Bến Tre nhằm tăng sức cạnh tranh của bưởi Bến Tre nói riêng và trái cây Việt Nam nói chung trên thị trường khu vực. Hỗ trợ đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh BDX có hiệu quả. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý “Bến Tre” cho sản phẩm BDX của tỉnh.

Giải pháp chính sách: tập trung triển khai thực hiện tốt hệ thống chính sách hỗ trợ mô hình liên kết sản xuất của Chính phủ, bộ, ngành Trung ương. Các vùng sản xuất BDX tập trung quy mô lớn có chính sách khuyến khích, kêu gọi các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng nhà kho, cơ sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Tạo điều kiện cho người trồng, tổ hợp tác, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay lãi suất ưu đãi, vốn hỗ trợ đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất và mở rộng quy mô đầu tư thông qua việc thực hiện lồng ghép các chính sách hỗ trợ trong nông nghiệp của Trung ương và của tỉnh để tác động tích cực đến liên kết sản xuất.

Theo Báo Đồng Khởi

Sản lượng trái cây tết Bính Thân giảm mạnh

đăng 15:33, 13 thg 12, 2015 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 15:34, 13 thg 12, 2015 ]

Nhà vườn ở tỉnh Hậu Giang cho biết do mất mùa nên sản lượng trái cây phục vụ thị trường dịp Noel, Tết Nguyên đán Bính Thân 2016 giảm mạnh. Nhiều khả năng xảy ra thiếu nguồn cung, giá cả tăng vọt.


Nguyên nhân mất mùa là do thời tiết năm nay diễn biến bất thường, lượng mưa giảm nhưng lại kết thúc sớm dẫn đến nhiều vườn cây ăn trái thiếu nước phát triển.

Nếu như những năm trước đây phần lớn nhà vườn xử lý việc ra trái, cho ra quả trái vụ với tỷ lệ đạt cao thì năm nay ngược lại. Cùng với đó, nhiều vườn cây ăn trái đã già cỗi, sâu bệnh tấn công, thiếu đầu tư chăm sóc, không còn cho trái nhiều như trước.

Theo báo cáo của các địa phương nơi có diện tích vườn cây ăn trái lớn nhất tỉnh như huyện Châu Thành, Châu Thành A, thị xã Ngã Bảy, Phụng Hiệp, Long Mỹ, thì sản lượng trái cây phục thị trường Tết Nguyên đán năm nay giảm từ 50-70%, tùy theo loại. Trong đó, nhiều loại trái cây có khả năng xảy ra thiếu nguồn cung như bưởi Năm Roi, bưởi tạo mẫu Hồ Lô, bàn tay phật, bưởi hình bản đồ Việt Nam; xoài cát Hòa Lộc, quýt đường Long Trị, cam sành...

Một thương lái thu mua trái cây tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang cho biết, do sản lượng trái cây giảm nên giá trái cây năm nay khá ổn định. Hiện bưởi Năm Roi giá dao động từ 25.000-30.000 đồng/kg, xoài cát Hòa Lộc 35.000 đồng/kg, quýt đường Long Trị 25.000-30.000 đồng/kg, cam sành từ 20.000-25.000 đồng/kg.

Riêng các loại bưởi tạo mẫu, tuy chưa đến ngày cận Tết, nhưng nhiều đầu mối ngoài tỉnh tìm đến nhà vườn đạt hàng với giá cao, trung bình mỗi cặp bưởi có giá từ 300.000-2 triệu đồng, nhưng không đủ nguồn để đặt hàng.

Xác định trồng cây ăn trái bán vào dịp Tết cho lợi nhuận khá cao, nên những năm qua nhà vườn tỉnh này luôn tìm tòi, áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, như kích thích cây ra hoa trái vụ, tạo mẫu trái cây bán trưng, thờ, cúng mang tính tâm linh.

Theo tính toán của nhà vườn, lợi nhuận trái cây bán vào dịp Tết tăng gấp 2-3 lần so với bán ngày thường, mỗi nhà vườn cho thu nhập từ 150-500 triệu đồng/ha, tùy theo loại trái cây.

Hậu Giang có diện tích vườn cây ăn trái hơn 33.000ha; trong đó cây có múi chiếm gần 50% diện tích, với sản lượng cung cấp cho thị trường hàng năm hơn 265.000 tấn. Tuy hiện nay đầu ra, giá cả các loại trái cây ở địa phương này chưa ổn định nhưng hiệu quả kinh tế mang lại cao gấp nhiều lần so với trồng lúa, giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống, vươn lên khấm khá.

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

Hà Nội với mô hình cây ăn quả đặc sản

đăng 15:22, 13 thg 12, 2015 bởi công trình cây

Để nâng cao giá trị kinh tế và chất lượng cây ăn quả, Thành phố Hà Nội đã xây dựng và triển khai Đề án phát triển một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao giai đoạn 2012 - 2016.

Đề án đã chọn bốn loại cây chủ lực gồm: cam Canh, bưởi Diễn, nhãn chín muộn, chuối tiêu.
Cam canh
Hà Nội đã xây dựng 31 mô hình điểm có chỉ dẫn địa lý và đăng ký bảo hộ thương hiệu về cây ăn quả đặc sản tập trung, gồm: vùng trồng bưởi Diễn tại các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức; nhãn chín muộn tại Quốc Oai, Hoài Đức; chuối cấy mô tại Gia Lâm, Đông Anh; cam Canh tại Thanh Oai và Thường Tín. Hiện tại, Hà Nội đang xây dựng vườn cây ăn quả đầu dòng với quy mô sản xuất 150.000 cây giống chất lượng cao/năm, trồng trình diễn một số giống cây ăn quả đặc sản và nâng cao công tác bảo quản sau thu hoạch cho bà con nông dân.
Bưởi Diễn
Việc phát triển cây ăn quả đặc sản được xem là hướng đi góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân các huyện ngoại thành, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân thành phố, xây dựng thương hiệu cây ăn quả Thủ đô.
Chuối tiêu

Những trang trại tiền tỷ của nông dân

đăng 14:29, 11 thg 12, 2015 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 12:22, 16 thg 2, 2016 ]

Trang trại nhãn Miền Thiết hay trại chuối của nông dân Hưng Yên là hai trong số những mô hình tiêu biểu cho thành tựu sản xuất nông nghiệp năm 2015, với thu nhập 4-7 tỷ đồng mỗi năm.

Cây Nhãn
Năm 2015, ông Nguyễn Văn Thế (44 tuổi, ở xã Hàm Tử, Khoái Châu, Hưng Yên) đưa 1,5 tấn nhãn sang thị trường Mỹ giới thiệu và nhận được nhiều tín hiệu lạc quan. Trang trại nhãn Miền Thiết của ông có quy mô 4 ha, là mô hình đi đầu về sản suất nhãn chất lượng cao. 

Nhận thấy nhãn truyền thống ít quả, lại không ngon, với sẵn kiến thức về nông nghiệp, ông Thế cùng anh trai đã tạo ra giống nhãn mới mang nhiều ưu điểm vượt trội như quả to, ăn ngọt và đẹp mã. Khi thử nghiệm thành công, ông phổ biến rộng rãi tới bà con trong xã. Giống mới đã được nhà nước công nhận và bổ sung vào bộ giống quốc gia.

Ông Thế có kế hoạch năm 2016 sẽ liên kết sản xuất trong toàn bộ xã Hàm Tử và xây dựng nhà máy chế biến để xuất khẩu sang Mỹ. 

Ngoài nhãn, ông còn trồng xen các giống bưởi và cây ăn quả khác kết hợp nuôi gà thả vườn. Thu nhập bình quân mỗi năm của ông khoảng 4,5 tỷ đồng, trong đó lãi 1,8-2 tỷ đồng. 

Ông là một trong 63 nông dân Việt Nam suất sắc năm 2015, giải nhì toàn quốc cuộc thi Sáng kiến nhà nông do Trung ương hội nông dân Việt Nam tổ chức.

Mô hình thuê lại ruộng cấy lúa

Trong khi nhiều hộ dân khác bỏ ruộng đi làm ăn xa, ông Trần Văn Lưỡng (52 tuổi, xã Quang Hưng, Kiến Xương, Thái Bình) lại quan niệm "đã là nông dân thì phải đam mê ruộng" nên thuê lại ruộng của các hộ dân khác để trồng lúa. Gọi là ruộng nhưng đó là miếng đất bỏ hoang không có người làm, trước đây người dân trong xã dựng lò gạch, dù đã được cải tạo nhưng đất phèn chua và kém hiệu quả, trong làng không có ai dám làm. 

Quyết định thuê 12 ha vào năm 2012 của ông khiến người trong làng e ngại và gọi là "Lưỡng khùng". "Ruộng cách nhà gần 4 km, cây cỏ mọc um tùm, mảnh sành, gạch vương vãi khắp nơi, vợ con và người thân ra sức can ngăn, nhưng tôi vẫn dốc hết vốn liếng và vay thêm ngân hàng để đầu tư cải tạo", ông kể.

Ông Lưỡng đầu tư mua máy gặt, san lấp hơn nghìn mét vuông sân phơi, trang bị máy bơm tưới tiêu, máy cày cấy để giảm công lao động. Khi thuê nhân công cải tạo, mọi người ai cũng nói "đất này sao làm được", ông đáp "các chị cứ làm đi, xong ngày nào tôi trả công ngày đó".

Vụ đầu ông cấy lúa tuyền thống như bắc hương, BC... năng suất không thấp nhưng đầu tư cho nhân công quá nhiều, thương lái còn ép giá. Sau này ông mày mò tìm đến công ty để giúp đỡ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm. 

Năm nay, vụ xuân ông cấy giống Hana đạt gần 2 tạ/sào Bắc Bộ. Công ty trả ông 7.000 đồng/kg thóc, số tiền thu về gần 140 triệu. Mới đây ông cấy giống VS1 thu hoạch lên đến 60 tấn, giá bán 6.200 đồng/kg và số tiền thu về khoảng 450 triệu.

Ông Lưỡng chia sẻ kinh nghiệm, bà con cần chú trọng đến giao thông thủy lợi nội đồng, chủ động tưới tiêu, bón phân theo tiêu chuẩn đúng thời vụ, hạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật. "Bà con đang phụ thuộc vào sự trợ giúp của hợp tác xã mà không chủ động tưới tiêu, thích trồng lúa nào thì trồng, bón phân nào thì bón, đến mùa thi thuê khoán nhân công hết", ông Lưỡng nói.

Không chỉ trồng lúa, ông còn nuôi lợn và cá. Mỗi năm tổng thu nhập của gia đình khoảng một tỷ đồng. 

Trang trại chuối của ông Phạm Năng Thành (xã Đại Tập, Khoái Châu, Hưng Yên) cũng là một trong nhiều cánh đồng tiền tỷ tiêu biểu. Trên diện tích 70 ha dọc ven sông Hồng, ông Thành đã áp dụng kỹ thuật canh tác khoa học nên sản lượng chuối mỗi năm đạt 7.000-8.000 tấn.

Quyết tâm làm giàu trên quê hương, ông Thành đã trồng thử nghiệm các loại quả như chuối, cam, bưởi. Nhận thấy trồng chuối có lãi hơn nên ông đi vay mượn khắp nơi để nhân rộng diện tích. Cứ đến cuối mùa ông lại mang xe chở chuối tiêu hồng đi bán khắp nơi ở Hà Nam, Hải Dương, Hà Nội. Nhờ đó, nó trở thành sản phẩm được ưa chuộng trên thị trường miền Bắc.

Ông Thành đang tích cực mở rộng quy mô sản xuất ra 200 ha để đáp ứng xuất khẩu sang Nga, Hàn Quốc. Bình quân thu nhập mỗi năm của gia đình ông là 7-8 tỷ đồng.

Vườn lan Ngọc Đan Vy, ở 80 Lê Thị Siêng, ấp Tiền (Tân Thông hội, Củ Chi, TP HCM) có diện tích khoảng 5 ha. Nó được trồng theo tiêu chuẩn công nghệ cao do anh Nguyễn Ngọc Đền làm chủ. Anh chính là người tiên phong trong việc phát triển vườn Lan Củ chi, từ một vùng đất chua phèn bằng việc áp dụng kỹ thuật cao đến nay đa cho ra cành lan tốt, năng suất đạt 60.000 cành/ha/năm. Bình quân thu nhập mỗi năm là 4-5 tỷ đồng mỗi năm.

Trang trại 40 ha của nông dân Đinh Xuân Thu (thôn 10, xã Nâm N’Jang, Đăk Song, Đăk Nông) được sử dụng để trồng tiêu với trình độ kỹ thuật cao như bón phân sinh học 95%, tự tạo trùn quế làm phân, phục hồi được cây tiêu lâu năm cho ra trái, kích tiêu nở sớm không phù thuộc thời tiết.

Ngoài diện tích trồng tiêu, trang trại phát triển theo mô hình khép kín và chăn nuôi bò, heo rừng, cá trình, dê, gà với quy mô lớn va quy hoạch phát triển theo hướng sinh thái lâu dài. Mỗi năm trang trại thu nhập bình quân 5-7 tỷ đồng.

Năm 1991, khi mới chuyển từ TP HCM đến Đắk Nông gia đình anh gặp rất nhiều khó khăn về vốn và đặc điểm thổ nhưỡng. Quyết định trồng hồ tiêu của anh được thực hiện nhưng không ít lần thất bại. Sau đó, anh dành nhiều thời gian để đọc và tìm hiểu kỹ thuật trồng và chăm hồ tiêu, tham quan nhiều mô hình trên khắp nước. Nhờ vận dụng các kiến thức khoa học vào sản xuất nên anh đã có được kết quả như hôm nay.

1-10 of 53