bưởi da xanh bến tre: Cơ hội và thách thức

đăng 15:38, 13 thg 12, 2015 bởi công trình cây   [ đã cập nhật 11:48, 16 thg 2, 2016 ]
Bến Tre có diện tích trồng cây ăn trái 27,5 ngàn héc-ta, với nhiều chủng loại cây nổi tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó bưởi da xanh được đưa vào nhóm cây ăn quả chất lượng cao, có tiềm năng và lợi thế thị trường trong và ngoài nước.

Bưởi da xanh (BDX) có thể xem là một trong 5 loại cây ăn trái đặc sản của Bến Tre và được xác định là cây ăn trái chủ lực có lợi thế trong phát triển. Hiện nay, diện tích trồng BDX toàn tỉnh là 5.500ha, chiếm 20% diện tích cây ăn trái, trong đó diện tích đã và đang cho trái 4.200ha; năng suất 11,4 tấn/ha, sản lượng 47.670 tấn. Vùng trồng tập trung ở các huyện Châu Thành (1.706ha), Mỏ Cày Bắc (1.023ha), Giồng Trôm (989ha), Chợ Lách (573ha) và TP. Bến Tre (599ha).

Tiềm năng phát triển

Đây là loại cây trồng có nhiều ưu thế để phát triển: với ưu thế khí hậu nhiệt đới ven biển và nhiều cửa sông cuối nguồn bồi đắp phù sa cho ba dải cù lao, Bến Tre hình thành nên một vùng BDX xanh tốt, giúp cho các nhà vườn nâng cao hiệu quả. Trình độ canh tác của nông dân ngày càng tiến bộ góp phần nâng cao vị thế BDX so với nhiều cây trồng khác. Bến Tre có nhiều cơ sở cung cấp giống BDX chất lượng cao, thuần chủng. Từ điều kiện thời tiết, khí hậu không cực đoan, nông dân có thể điều chỉnh cho cây ra hoa và cho trái rải vụ quanh năm phục vụ cho thị trường tiêu dùng. Đây là lợi thế vượt trội mà không phải địa phương nào cũng làm được. Một ưu điểm khác của loại trái này là bảo quản được lâu, ít hao hụt trong vận chuyển.

Thời gian qua, tỉnh quan tâm đầu tư rất nhiều về mặt chính sách như: xây dựng chương trình phát triển 4.000ha BDX giai đoạn 2006-2010, xây dựng chương trình phát triển BDX tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2015 và đến 2020, xây dựng quy hoạch đến năm 2020 diện tích bưởi ở Bến Tre là 6.500ha. Xây dựng Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2015 và hướng đến năm 2020, cây BDX là một trong 5 cây ăn trái chủ lực của tỉnh cần phải được tập trung đầu tư phát triển vùng chuyên canh, hướng đến thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học nhằm tạo ra sản phẩm có năng suất và chất lượng cao, có sức cạnh tranh đáp ứng nhu cầu thị trường để nâng cao hiệu quả kinh tế vườn, thu nhập cho người làm vườn.

Cơ hội và thách thức

Sự chỉ đạo sâu sát của UBND tỉnh, ngành Nông nghiệp các cấp, năng lực của đội ngũ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, sự nỗ lực của nông dân đã góp phần vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất BDX. Mô hình liên kết “4 nhà” bước đầu đã kích thích nhiều tổ chức, doanh nghiệp và nông dân tham gia.

BDX có chất lượng vượt trội hơn các giống bưởi khác, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng bưởi và đang có tiềm năng phát triển ở Bến Tre. Nhu cầu thị trường về bưởi tươi tăng cao trong những năm gần đây cả trong và ngoài nước do những đặc tính và công dụng tốt của trái bưởi lên sức khỏe con người. Thị trường xuất khẩu BDX ngày càng rộng thông qua việc quảng bá thương hiệu BDX ở các hội chợ trong nước và quốc tế. Các thị trường có thể xuất khẩu EU, Singapore, Nhật, Nga...

Tuy nhiên, thực tế chất lượng BDX của Bến Tre không đồng đều, sản lượng còn thấp làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Diện tích đất sản xuất của hộ nông dân nhỏ lẻ, không tập trung. Chưa có nhiều diện tích chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm có thể nguy cơ mất thị trường. Các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc... sản xuất bưởi có chất lượng cao đồng đều, giá thấp. Tình hình dịch hại cây trồng ngày càng diễn biến phức tạp (sâu đục trái, bệnh vàng lá Greening…). Chi phí đầu vào tăng cao như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến sinh trưởng và phát triển BDX, những thay đổi bất thường của thời tiết khiến quá trình chăm sóc gặp nhiều khó khăn. Thị trường luôn biến động, các mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ và sự gắn kết chuỗi giá trị sản phẩm chưa thật sự chặt chẽ, còn mang tính hình thức, vì vậy phát huy hiệu quả chưa cao.

Vì không có vùng nguyên liệu tập trung nên bưởi có chất lượng tốt thường không nhiều, khó thu mua với số lượng lớn. Sản lượng bưởi đạt chuẩn chất lượng VietGAP và GlobalGAP chưa nhiều, diện tích nhỏ lẻ nên chưa ổn định được nguồn sản phẩm và sự đồng đều về chất lượng khi  khách  hàng yêu cầu. Những khi thị trường hút hàng, thương lái không thu gom đủ lượng BDX để cung cấp. Khi thu mua từ nhiều vườn khác nhau, chất lượng thường không ổn định. Do phải cạnh tranh nhiều khi thu mua, nên thương lái khó kiểm soát được sản lượng và chất lượng bưởi. Tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân còn yếu, chưa đủ sức làm cầu nối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, do vậy tính chủ thể của nông dân trong sản xuất còn hạn chế. Khâu tổ chức và quản lý sản xuất tiêu thụ chưa có người đứng đầu để điều phối các hoạt động nên chuỗi giá trị còn rời rạc.

Giải pháp trong thời gian tới

Tập trung phát triển chương trình phát triển BDX tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2015 và đến 2020 nhằm mục tiêu: xây dựng vùng nguyên liệu BDX tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, mở rộng thị trường; đa dạng hóa sản phẩm từ bưởi và tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng bưởi với các giải  pháp cụ thể.

Giải pháp liên kết sản xuất: triển khai xây dựng mô hình liên kết sản xuất giữa người trồng với các doanh nghiệp. Xây dựng liên kết ngang giữa nông dân trồng BDX hình thành chi hội nông dân trồng BDX trên địa bàn từng ấp, xã. Xây dựng liên kết dọc giữa nông dân trồng BDX và thương lái. Liên kết “4 nhà” cần đa dạng liên kết trong từng khâu hay liên kết nhiều khâu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ, liên kết nhiều thành phần trong chuỗi sản phẩm từ cung cấp vật tư đầu vào đến cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, để bảo đảm sự bền vững của liên kết thì chữ “tín” phải được các bên coi trọng và nông dân phải xác định đây là việc làm vì lợi ích lâu dài cho chính mình.

Giải pháp khoa học công nghệ: ứng dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến để đạt chất lượng trái cao, đồng đều theo hướng an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. Mở rộng diện tích áp dụng quy trình sản xuất vì đây là điều cốt lõi để nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định vị thế của sản phẩm không chỉ phục vụ thị trường xuất khẩu mà cả thị trường trong nước. Tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh, quản lý dịch hại tổng hợp theo hướng hạn chế sử dụng thuốc hóa học độc hại. Ứng dụng công nghệ mới nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch, bảo quản và chế biến. Bảo tồn các giống BDX chất lượng cao và thuần chủng.

Giải pháp thị trường: tăng cường công tác quảng bá thương hiệu để thu hút khách hàng qua các kênh: tham dự Hội thi trái ngon, Hội chợ quốc tế, internet. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty, hợp tác xã tham gia hội chợ triển lãm nông sản trong và ngoài nước nhằm giới thiệu và quảng bá sản phẩm. Xây dựng chương trình phát triển thị trường, thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp hình thành kênh phân phối đến thị trường tiêu thụ. Xây dựng tên và thương hiệu cho sản phẩm BDX Bến Tre nhằm tăng sức cạnh tranh của bưởi Bến Tre nói riêng và trái cây Việt Nam nói chung trên thị trường khu vực. Hỗ trợ đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh BDX có hiệu quả. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý “Bến Tre” cho sản phẩm BDX của tỉnh.

Giải pháp chính sách: tập trung triển khai thực hiện tốt hệ thống chính sách hỗ trợ mô hình liên kết sản xuất của Chính phủ, bộ, ngành Trung ương. Các vùng sản xuất BDX tập trung quy mô lớn có chính sách khuyến khích, kêu gọi các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng nhà kho, cơ sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Tạo điều kiện cho người trồng, tổ hợp tác, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay lãi suất ưu đãi, vốn hỗ trợ đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất và mở rộng quy mô đầu tư thông qua việc thực hiện lồng ghép các chính sách hỗ trợ trong nông nghiệp của Trung ương và của tỉnh để tác động tích cực đến liên kết sản xuất.

Theo Báo Đồng Khởi

Comments