Chân vịt



Cây chân vịt

Cây chân vịt có tên khoa học Selaginella Tamariscina Spring, thuộc họ quyển bá (Selaginellaceae), còn được gọi là cải tử hoàn thảo, hồi sinh thảo, trường sinh thảo. Cây cũng có tên là móng lưng rồng, thạch bá chi, nhả nung ngựa, vạn niên tùng, hoàng dương thảo, linh chi thảo.... Đây là cây thảo sống lâu năm, cao 15 - 30 cm, mọc trong rừng râm mát, rễ phụ bám chắc vào các phiến đá. Thân đứng hoặc nằm, tròn, màu cánh gián, phân nhánh theo lối rẽ đôi. Rễ phụ từ gốc tỏa các nhánh đâm xuống đất. Lá nhiều, nhỏ, có lưỡi nhỏ, hình trứng, đầu nhọn, mép lá có răng cưa thưa. Đầu các cành có bông sinh bào tử, cấu tạo bởi các lá đặc biệt, gọi là lá bào tử.

Cây chân vịt được cho là có nguồn gốc từ Ba Tư cổ đại, tiếp đó được các thương buôn Ả Rập mang vào Ấn Độ và tới Trung Quốc vào năm 647. Vào thế kỷ 14, cây chân vịt xuất hiện lần đầu tại Anh, Pháp và nhanh chóng được yêu thích do xuất hiện vào cuối đông, đầu xuân – khi các loại rau khác còn hiếm hoi. Loại cây này là nguồn cung cấp chất sắt và vitamin K, có tác dụng cầm máu, giúp duy trì, tăng độ dẻo dai và phòng ngừa chứng gãy xương ở người cao tuổi. Trong chiến tranh thế giới thứ 1, nước ép cây chân vịt được binh lính Pháp dùng như loại thuốc đặc trị xuất huyết.

Cây chân vịt chỉ thấy có tại các tỉnh miền núi Tây Bắc và Việt Bắc, khi khô cuộn tròn xếp lại giống như chân vịt. Cây chịu khô hạn tốt, cho vào túi nylon giữ trong thời gian bao lâu cũng được, khi cần dùng cho vào nước đun sôi là lại nở to ra. Để làm thuốc, người ta thu hái toàn cây rồi cắt bỏ rễ, dùng khô hoặc tươi đều được.

Theo tài liệu cổ Trung Quốc, Hàn Quốc, chân vịt vị hơi đắng, không mùi, tính lạnh, không độc. Cây tươi có tác dụng tan huyết; dùng khô sao đen có tác dụng cầm máu. Do đó, nó được dùng để điều trị tiểu tiện ra máu, trĩ ngoại, đại tiện có máu tươi (Hemeroic), phụ nữ kinh nguyệt kéo dài quá lâu. Ngoài ra, chân vịt còn được dùng để chữa bỏng.

Đặc biệt, chân vịt khô điều trị tốt bệnh viêm gan, vàng da, vàng mắt, tắc mật, hủy hoại tế bào gan, tiểu tiện vàng sánh hoặc bệnh Leptospira (da, mắt vàng và chảy máu). Nó cũng có tác dụng bổ máu (dùng chung với hạt sen, gà con múm đuôi tôm, củ tam thất để hầm ăn). Ngày dùng 20 - 30g cả lá và rễ khô dưới dạng thuốc sắc, uống trong ngày. Dùng ngoài dưới dạng sao giòn, tán bột rắc lên vết thương.

Comments