Phi lao

Cây Phi-lao (tên khác là Dương liễu) và cây Liễu rũ là cây rất khác nhau. Chúng là hai loài thực  vật thuộc hai họ xa nhau, có vùng phân bố tự nhiên cũng khác nhau. Cây Phi-lao có tên khoa học là Casuarina equisetifolia, thuộc họ Phi-lao – Casuarinaceae, phân bố tự nhiên ở Australia, Malaysia, vùng Nam Á và nhiều đảo Thái bình Dương; còn cây Liễu rũ có tên khoa học là Salix babylonica, thuộc họ Liễu – Salicaceae, phân bố tự nhiên chủ yếu ở Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi cây Phi lao là Mộc ma hoàng, còn cây Liễu là Thùy liễu. Tuy nhiên, một vài địa phương, như Hồ Nam chẳng hạn, cũng gọi Thùy liễu là Dương liễu, do họ quan niệm rằng cây Dương và cây Liễu rất gần gũi nhau, cùng trút lá lúc vào thu, rồi thay da đổi thịt vào đầu xuân như nhau.

Trên thế giới, người ta biết cây Phi-lao qua các tên gọi Filao, Filao bord de mer, Filao tree, Australian Pine, Horsetail tree…

Phi-lao thuộc loại cây gỗ trung bình, cao 15 – 25 m, mang hoa đơn tính cùng cây. Hoa đực tập trung ở đầu cành, lúc nở, nhị có màu vàng nâu khiến cho toàn cây như bị khô cháy. Hoa cái mọc thành cụm ở giữa hay gốc cành, khi nở sẽ khoe sắc đỏ thắm rất đẹp mắt. Quả Phi-lao thuộc dạng quả kép, khi chín có vỏ hóa gỗ và tự khai để phóng thích hạt ra ngoài. Hạt có khả năng tái sinh mạnh, cây con mọc khỏe và thích nghi với các đồi cát vàng ven biển rất tốt. Cây chịu được mặn, khô và gió, nên rất thích hợp với việc trồng tạo rừng phòng hộ, cố định cát ở các đồi cát di động ven biển. Gỗ của cây cho nhiệt lượng lớn, sau cháy để lại than chất lượng cao, làm chất đốt rất tốt, nhất là phục vụ các lò gạch, lò gốm… Vì vậy, trong mấy chục năm qua, nhiều rừng Phi-lao ven biển đã bị chặt phá bừa bãi, thiếu kiểm soát. Phi-lao cũng là loài cây có phổ thích nghi sinh thái rộng, có thể đưa trồng ở những tiểu vùng sinh thái nội địa, thậm chí ở vùng đồi núi cao. Nhiều mô hình trồng Phi-lao làm đai chắn gió cho các cánh đồng lúa nước ở khu vực miền Trung tỏ ra rất hiệu quả. Nhiều nơi, người ta còn khai thác vỏ Phi-lao để trích ta-nanh dùng vào việc nhuộm vải, lưới đánh cá, hay dùng cho y học.

Comments