Trúc Sào


Tên khác: Trúc Cao Bằng, mao trúc, mạy khoang cái, mạy khoang hoài, sào pên (Dao)

Họ: Hoà thảo – Poaceae

Phân họ: Tre – Bambusoideae

Hình thái

Là loài Tre mọc tản, thân cách xa nhau 0,5-1m hay hơn; cao khoảng 20m, đường kính 12-20cm, thân non phủ dày lông mềm nhỏ và phấn trắng; vòng mo có lông; thân già nhẵn và chuyển từ màu lục thành màu vàng lục; các lóng gốc rất ngắn, các lóng trên dài dần, lóng giữa thân dài tới 40cm hay hơn; bề dày vách khoảng 1cm; vòng thân không rõ, thấp hơn vòng mo hay nổi lên ở các thân nhỏ. Bẹ mo màu nâu vàng hay nâu tím, mặt lưng có các đốm màu nâu đen và mọc dày lông gai màu nâu; tai mo nhỏ, lông mi phát triển; lưỡi mo ngắn, rộng, nổi lên mạnh thành hình cung nhọn, mép có lông mảnh dài, thô; phiến mo ngắn, hình tam giác dài đến hình lưỡi mác, lưng uốn cong dạng song, màu lục; lúc đầu đứng thẳng, sau lật ra ngoài. Cành nhỏ 2-4 lá; tai lá không rõ, lông mi miệng bẹ tồn tại và dễ rụng; thìa lìa nổi rõ; phiến lá khá nhỏ, mỏng, hình lưỡi mác, dài 4-11cm, rộng 0,5-1,2cm, mặt dưới có lông mềm trên gân chính, gân cấp hai 3-6 đôi.

Cụm hoa dạng bông, dài 5-7cm, gốc có 4-6 lá bắc dạng vảy nhỏ; đôi khi phía dưới cành hoa còn có 1-3 chiếc lá gần phát triển bình thường.

Các thông tin khác về thực vật

Trúc sào hay mao trúc là loài tre phổ biến và được trồng trên diện tích lớn nhất của Trung Quốc. Do điều kiện trồng trọt, loài trúc này đã có đến 9 thứ cây trồng (cultivar). Cây trúc sào được trồng nhiều ở Việt Nam hiện nay có nguồn gốc từ loài mao trúc của Trung Quốc. Nhưng trong điều kiện trồng trọt mới của Việt Nam, nó đã có nhiều biến đổi. Cần phải nghiên cứu lại tên khoa học của loài trúc sào cao bằng, vì so với mao trúc (P. heterocycla), trúc sào cao bằng của Việt Nam có một số sai khác sau:

Thân trúc cao bằng nhỏ hơn mao trúc, khi chế biến thân mao trúc trắng hơn và không có vết sẫm màu của đốt.Trúc cao bằng rụng lá hàng năm chứ không phải 2 năm mới thay lá một lần như mao trúc.

Trúc sào cao bằng mỗi năm hình thành một chu trình là: sinh thân ngầm, ra măng, thành cây, thay lá. Còn mao trúc thì 2 năm mới hoàn thành một chu trình: một năm ra măng. Một năm ra thân ngầm và 2 năm mới thay lá (Trần Đức Hậu,1985).

Vấn đề phân loại chính xác loài trúc sào cao bằng cũng như tính đa dạng của chúng cần được nghiên cứu kỹ hơn. Đây là cơ sở khoa học phục vụ cho việc chọn giống để phát triển trúc sào có hiệu quả cao.

Có thể trúc sào là một phân loài (Subspecies) hoặc thứ cây trồng (cv.) của mao trúc.

Phân bố

Cây Trúc sào có nguồn gốc chính từ Trung Quốc, Nhật Bản. Khi người Dao di cư từ nam Trung Quốc xuống phía Bắc Việt Nam đã mang theo loài tre quí này vì nó là cây đa tác dụng và gắn bó nhiều đến cuộc sống của họ. Sau đó một số đồng bào Tày, Nùng ở các tỉnh biên giới phía Bắc cũng đã trồng trúc sào ở những khu vực thấp hơn.

Thế giới:

Trung Quốc, trúc sào (mao trúc) phân bố rộng tại các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Nam. Theo Zhou Fang Chun (2000), diện tích trúc sào ở Trung Quốc đạt tới trên 4 triệu hecta. 

Việt Nam:

Trúc sào được trồng nhiều tại Cao Bằng (Bảo Lạc, Nguyên Bình) và Hà Giang. Sau này các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh cũng đã nhập loài trúc sào vào để trồng ở các vùng có đồng bào Dao, Mông, Tày, Nùng sinh sống.


Comments